TUYÊN BỐ CHUNG kêu gọi trả tự do cho tù nhân lương tâm Việt Nam, Trần Huỳnh Duy Thức

TUYÊN BỐ CHUNG

kêu gọi trả tự do cho tù nhân lương tâm Việt Nam, Trần Huỳnh Duy Thức

Ngày 24 tháng 5 năm 2015

Ngày 24 tháng 5 năm 2009, ông Trần Huỳnh Duy Thức – một doanh nhân trong lĩnh vực công nghệ thông tin, đồng thời là một blogger – đã bị bắt và khởi tố ban đầu với tội danh “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo điều 88 Bộ luật Hình sự Việt Nam chỉ vì ông đã thực hiện quyền tự do biểu đạt của mình một cách ôn hòa. Nhưng vào ngày 20 tháng 1 năm 2010, trong một phiên tòa diễn ra chỉ duy nhất một ngày, Trần Huỳnh Duy Thức và ba người cùng bị truy tố với ông trong vụ án, gồm các ông Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung và Lê Thăng Long, bị đưa ra xét xử với tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo điều 79 Bộ luật hình sự. Ông Thức nhận án 16 năm tù kèm 5 năm quản chế, trong khi các ông Định, Trung và Long theo thứ tự lần lượt nhận các mức án 5 năm, 7 năm và 5 năm tù kèm 3 năm quản chế.

Trái ngược với án tuyên tội hoạt động nhằm “lật đổ” chính quyền, các hoạt động bị đưa ra truy tố của ông Thức và những người bị kết án cùng ông thực chất chỉ là viết blog kêu gọi cải cách chính trị và tôn trọng quyền con người (một bài viết ví dụ của ông Thức: https://tranfami.wordpress.com/…/hewing_quest_for_democrac…/). Các bị cáo đã không được đưa ra xét xử trong một phiên tòa công bằng, khi mà thân nhân của họ cũng như các ký giả nước ngoài không được cho vào phòng xử án. Hơn nữa, micro của các bị cáo thường xuyên ngưng hoạt động mỗi khi đến lượt trình bày của luật sư bào chữa cho ông Thức hay khi ông Long có ý định công khai trước tòa việc ông cùng các bị cáo khác đã bị bức cung để khai nhận tội. Theo các nhân chứng có mặt tại phiên xét xử, các thẩm phán chỉ dành ra 15 phút nghị án trong khi lại mất đến 45 phút đọc bản tuyên án, qua đó cho thấy khả năng bản án đã được chuẩn bị trước thời điểm phiên tòa diễn ra.

Vào ngày 23 tháng 11 năm 2012, Nhóm Làm việc chống Giam giữ Tùy tiện của Liên hiệp Quốc (gọi tắt là WGAD) đã kết luận việc cầm tù ông Thức cùng những người bị đồng tuyên án với ông đã vi phạm quyền tự do tư tưởng và biểu đạt vốn được đảm bảo tại Điều 19 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (gọi tắt là ICCPR). Theo đó, WGAD yêu cầu nhà nước Việt Nam trả tự do đồng thời bồi thường thiệt hại cho những người trên nhằm tuân thủ đúng các nghĩa vụ quốc tế của nước này. Tuy Việt Nam đã chấp nhận 31 khuyến nghị kêu gọi tôn trọng và bảo vệ tự do biểu đạt trong kỳ Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát tại Hội đồng Nhân quyền của Liên hiệp Quốc vào năm 2014, cho đến nay nhà nước Việt Nam vẫn chưa giải quyết thỏa đáng trường hợp của ông Thức.

Hôm nay, ngày 24 tháng 5 năm 2015, đánh dấu 6 năm ngày ông Thức bị đẩy vào vòng lao lý. Hiện tại, ông Thức vẫn còn trong nhà tù cho dù ba người bạn còn lại của ông đã được trả tự do trước đó. Vì vậy, chúng tôi kêu gọi nhà nước Việt Nam tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế lẫn trong nước của mình bằng cách trả tự dongay lập tức cho ông Thức. Chỉ khi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành những bước đi cần thiết để hủy bỏ bản án của ông, lúc đó công lý mới được trả lại cho ông. Cộng đồng quốc tế và các tổ chức nhân quyền sẽ quan sát các diễn biến tiếp theo.

ĐỒNG KÝ TÊN:

1. Amnesty International – Anh
2. Civil Rights Defenders – Thụy Điển
3. Freedom House – Hoa Kỳ
4. International Commission of Jurists – Thụy Sỹ
5. Bà Janet Nguyễn, Thượng nghị sỹ bang California, Quận 34 – Hoa Kỳ
6. Asian Forum for Human Rights and Development (FORUM-ASIA) – Thái Lan
7. Asian Human Rights Commission – Hong Kong
8. Assistance Association for Political Prisoners – Miến Điện
9. Burma Partnership – Miến Điện
10. Centre for Human Rights Education – Miến Điện
11. Citizens for Justice and Peace – Ấn Độ
12. Impersial – Indonesia
13. Justice and Peace Netherlands, The Hague – Hà Lan
14. Network of Chinese Human Rights Defenders – Hong Kong
15. OT Watch Mongolia – Mông Cổ
16. Taiwan Association for Human Rights – Đài Loan
17. Commission for the Disappeared and Victims of Violence (KontraS) – Indonesia
18. Triangle Women’s Support Group – Miến Điện
19. Văn Lang – Cộng hòa Czech
20. Vietnamese Overseas Initiative for Conscience Empowerment (VOICE) – Philippines
21. Hội Bảo vệ Quyền Tự do Tôn giáo – Việt Nam
22. Hội Ái hữu tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam – Việt Nam
23. Bạch Đằng Giang Foundation – Việt Nam
24. Hội Bầu Bí Tương Thân – Việt Nam
25. Thanh niên Canada Vì Nhân Quyền cho Việt Nam – Việt Nam
26. Diễn đàn Xã hội Dân sự – Việt Nam
27. Hội thánh Tin lành Chuồng Bò – Việt Nam
28. Giáo Hội Liên Hữu LuTheran Việt Nam và Hoa Kỳ – Việt Nam
29. Hội Cựu Tù nhân Lương tâm – Việt Nam
30. Hội Nhà báo độc lập Việt Nam – Việt Nam
31. No – U Miền Trung – Việt Nam
32. REM Defenders – Việt Nam
33. Con Đường Việt Nam – Việt Nam
34. Mạng lưới Blogger Việt Nam – Việt Nam
35. Tăng Đoàn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất – Việt Nam
36. Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền – Việt Nam

Posted in vietnamese | Leave a comment

Hòa bình của nấm mồ

Hòa bình của nấm mồ

 

Cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trả lời phỏng vấn của Spiegel 1979

Cuối năm 1979, Cựu Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu, người ít khi lên tiếng từ khi sống lưu vong sau tháng Tư 1975, đã dành cho tạp chí Spiegel của Đức một cuộc phỏng vấn dài về kết cục của Chiến tranh Việt Nam.

Spiegel: Thưa ông Thiệu, từ 1968 đến 1973 Hoa Kỳ đã nỗ lực thương lượng hòa bình cho Việt Nam. Trong cuốn hồi ký của mình, ông Henry Kissinger, trưởng phái đoàn đàm phán Hoa Kỳ đã dùng nhiều trang để miêu tả việc ông, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, đã chống lại những nỗ lực nhằm đem lại hòa bình cho một cuộc chiến đã kéo dài nhiều năm, với hàng triệu nạn nhân và dường như là một cuộc chiến để “bóp nát trái tim Hoa Kỳ”. Vì sao ông lại cản trở như vậy?

Nguyễn Văn Thiệu: Nói thế là tuyệt đối vô nghĩa. Nếu tôi cản trở thì đã không có Hiệp định Hòa bình năm 1973 – mặc dù, như ai cũng biết, đó không phải là một nền hòa bình tốt đẹp; hậu quả của nó ở Việt Nam là chứng chỉ rõ ràng nhất. Kissinger đại diện cho chính sách và lợi ích của chính phủ Mỹ. Là Tổng thống Nam Việt Nam, bổn phận của tôi là bảo vệ những lợi ích sống còn của đất nước tôi.

Tôi đã nhiều lần chỉ ra cho Tổng thống Nixon và TS Kissinger rằng, đối với một cường quốc như Hoa Kỳ thì việc từ bỏ một số vị trí không mấy quan trọng ở một quốc gia bé nhỏ như Nam Việt Nam không có gì đáng kể. Nhưng với chúng tôi, đó là vấn đề sinh tử của cả một dân tộc.

Spiegel: Kissinger không phủ nhận rằng cuối cùng ông cũng đồng ý. Nhưng ông ấy cũng nói rằng phải đàm phán lâu như vậy vì ông cản trở nhiều, rằng ông đồng ý với các đề xuất của Mỹ chỉ vì ông chắc mẩm rằng đằng nào thì Hà Nội cũng sẽ bác bỏ.

Nguyễn Văn Thiệu: Không đúng như vậy. Để chấm dứt một cuộc chiến tranh đã kéo dài gần 30 năm, người ta cần nhiều thời gian hơn là hai, ba ngày hay hai, ba tháng. Tôi hiểu rõ rằng đối với người Mỹ đã đến giúp chúng tôi, đây là cuộc chiến dài nhất trong lịch sử của họ. Có lẽ vì thế mà họ vội vã như vậy. Nhưng điều chúng tôi cần là một nền hòa bình lâu dài.

Spiegel: Kissinger có ý cho rằng ông không thực sự muốn ký kết một thỏa thuận về hòa bình, đúng ra ông ngầm mong phía miền Bắc cũng sẽ cứng đầu như ông. Kissinger viết rằng ông đồng ý với nhiều đề xuất từ phía Mỹ – trong tinh thần sẵn sàng không tuân thủ, chỉ vì trong thâm tâm ông không tin rằng hòa bình sẽ được ký kết. Có phải là trong khi đàm phán, ông đã bịp, với hy vọng là sẽ không bao giờ phải ngửa bài lên?

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Sao lại có thể nói là một dân tộc đã chịu đựng bao nhiêu đau khổ suốt 30 năm lại muốn kéo dài cuộc chiến? Kissinger muốn xúc tiến thật nhanh mọi việc để Mỹ có thể rút quân và tù binh Mỹ được thả. Mà có lẽ mục đích của chính phủ Mỹ cũng là cao chạy xa bay. Họ thì có thể bỏ chạy. Nhưng chúng tôi thì phải ở lại Nam Việt Nam.

Chúng tôi có quyền chính đáng để đòi hỏi một hiệp định hòa bình toàn diện. Không phải là vài ba năm hòa bình, rồi sau đó lại 30 năm chiến tranh.

 

Nguyễn Văn Thiệu và Richard Nixon tại cuộc họp ở Midway 1969

Spiegel: Vậy tại sao ông lại đi trước cả người Mỹ và tự đề nghị Hoa Kỳ rút quân trong cuộc họp tại đảo Midway ở Thái Bình Dương tháng Sáu 1969, theo tường thuật của Kissinger?

Nguyễn Văn Thiệu: Trước khi họp ở Midway, việc chính phủ Mỹ dự định rút quân đã không còn là điều bí mật. Cho phép tôi nhắc để các ông nhớ lại, tin tức về việc Mỹ sẽ rút một số quân đã loan khắp thế giới, trước cuộc họp ở Midway. Vì sao? Theo tôi, chính phủ Mỹ muốn thả bóng thăm dò, tiết lộ thông tin trước cho báo chí và đẩy chúng tôi vào sự đã rồi.

Spiegel: Tức là ông đã nắm được tình hình?

Nguyễn Văn Thiệu: Đúng thế. Cuộc họp ở Midway nhằm hai mục đích. Thứ nhất, cho hai vị tân tổng thống cơ hội làm quen và bàn về đề tài Việt Nam. Điểm thứ hai đã vạch rất rõ là bàn về việc rút những toán quân Mỹ đầu tiên. Tôi đã không hình dung sai điều gì và đã làm chủ tình thế. Không có gì phải lo lắng, và tôi đã rất vững tâm.

Spiegel: Khi đề xuất Mỹ rút quân, ông có thật sự tin rằng Nam Việt Nam có thể chiến đấu một mình và cuối cùng sẽ chiến thắng trong một cuộc chiến mà hơn 540.000 lính Mỹ cùng toàn bộ guồng máy quân sự khổng lồ của Hoa Kỳ không thắng nổi không? Chuyện đó khó tin lắm.

Nguyễn Văn Thiệu: Không, đề xuất đó không phải của tôi. Tôi chỉ chấp thuận. Tôi chấp thuận đợt rút quân đầu tiên của Mỹ, vì Tổng thống Nixon bảo tôi là ông ấy gặp khó khăn trong đối nội và việc rút quân chỉ mang tính tượng trưng. Ông ấy cần sự ủng hộ của dư luận và của Quốc hội. Nhưng tôi cũng bảo ông ấy rằng: Ông phải chắc chắn rằng Hà Nội không coi việc bắt đầu rút quân đó là dấu hiệu suy yếu của Hoa Kỳ.

Spiegel: Và ông không nghĩ đó là khởi đầu của việc rút quân toàn bộ?

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Tôi đã hình dung được rằng, đó là bước đầu tiên để cắt giảm quân số. Nhưng không bao giờ tôi có thể nghĩ Mỹ sẽ rút hẳn và bỏ rơi Nam Việt Nam. Tôi đã trình bày với Tổng thống Nixon rằng việc cắt giảm quân số sẽ phải tiến hành từng bước, như khả năng chiến đấu và việc tiếp tục củng cố Quân lực Việt Nam Cộng hòa cho phép – tương ứng với những viện trợ quân sự và kinh tế có thể giúp Nam Việt Nam tự đứng trên đôi chân của mình.

Quan trọng hơn, tôi đã bảo ông ấy phải yêu cầu Hà Nội có một hành động tương ứng đáp lại. Phía Mỹ đồng ý với tôi ở mọi điểm; về một sự rút quân từng bước và của cả hai phía…

Spiegel: và mang tính tượng trưng?

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi hiểu rõ rằng cuộc chiến ở Việt Nam cũng là một vấn đề đối nội của Hoa Kỳ. Và Tổng thống Nixon giải thích rằng ông ấy cần một cử chỉ tượng trưng để giải quyết vấn đề đó. Trước đó một tuần tôi đến Seoul và Đài Loan, tôi đã nói với Tổng thống Park Chung Hee và Tổng thống Tưởng Giới Thạch rằng tôi hy vọng việc rút quân sắp bàn với Tổng thống Nixon ở Midway chỉ là một sự cắt giảm quân số mang tính tượng trưng. Song tôi cũng lưu ý rằng nếu Hoa Kỳ muốn rút hẳn thì chúng tôi cũng không thể ngăn cản. Vậy thì đề nghị họ rút quân từng bước, đồng thời viện trợ để củng cố một quân đội Nam Việt Nam hùng mạnh và hiện đại, có thể thay thế người Mỹ, sẽ là hợp lý hơn. Không bao giờ tôi đặt giả thiết là lính Mỹ sẽ ở lại Việt Nam vĩnh viễn.

Spiegel: Mỹ vẫn đóng quân ở Hàn Quốc và Tây Đức mà.

Nguyễn Văn Thiệu: Nhưng chúng tôi là một dân tộc rất kiêu hãnh. Chúng tôi bảo họ rằng, chúng tôi cần vũ khí và viện trợ, nhưng nhiệt huyết và tính mạng thì chúng tôi không thiếu.

Spiegel: Ông đánh giá thế nào về tình thế của ông khi ấy? Vài tháng trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Melvin Laird vừa đưa ra một khái niệm mới: “Việt Nam hóa chiến tranh”. Trước đây người Mỹ chỉ nói đến việc “phi Mỹ hóa” cuộc chiến. Cái khái niệm mới ấy đã thể hiện rõ dự định rút khá nhanh của người Mỹ rồi, đúng không?

Nguyễn Văn Thiệu: Khi đến Sài Gòn vào tháng Bảy 1969, ông Nixon đã nhắc lại rằng ông ấy cần được sự hậu thuẫn của dư luận trong nước Mỹ. Tôi hiểu ông ấy. Nhưng ông ấy không hề tuyên bố rằng việc rút quân là một lịch trình mang tính hệ thống do sáng kiến của Mỹ. Ông ấy chỉ nói với tôi về những khó khăn trong nước, ở Mỹ, và đề nghị tôi giúp. Ông ấy bảo: “Hãy giúp chúng tôi giúp ông.” Tôi đáp: “Tôi giúp ông giúp chúng tôi.” Trong lần họp mặt đó, chúng tôi lại tiếp tục bàn về việc rút quân từng bước.

Spiegel: Nhưng không đưa ra một lịch trình cụ thể?

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Và ông Nixon lại hứa rằng việc rút quân của Mỹ sẽ phải đi đôi với những hành động tương ứng của Bắc Việt và phải phù hợp với khả năng phòng thủ của Nam Việt Nam cũng như phải phù hợp với việc Mỹ tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho Nam Việt Nam.

Spiegel: Ở thời điểm đó ông có nhận ra rằng nếu thấy cần thì Mỹ cũng sẽ sẵn sàng đơn phương rút quân không?

Nguyễn Văn Thiệu: Có, tôi đã ngờ. Nhưng lúc đó tôi vẫn rất vững tâm và tin tưởng vào đồng minh lớn của chúng tôi.

Spiegel: Có lẽ ông tin thế là phải. Cuốn hồi ký của Kissinger cho thấy khá rõ rằng chính phủ Nixon không thể dễ dàng “đình chỉ một dự án liên quan đến hai chính phủ, năm quốc gia đồng minh và đã khiến 31,000 người Mỹ phải bỏ mạng, như thể ta đơn giản chuyển sang một kênh TV khác.”

Rõ ràng là người Mỹ muốn thoát khỏi Việt Nam bằng con đường đàm phán. Chỉ trong trường hợp cần thiết họ mới muốn đơn phương rút quân. Ông có đưa ra yêu sách nào liên quan đến những cuộc thương lượng giữa Washington và Hà Nội không?

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi đã chán ngấy chiến tranh và quyết tâm chấm dứt nó qua đàm phán. Chúng tôi yêu cầu những kẻ xâm lăng đã tràn vào đất nước của chúng tôi phải rút đi. Tất cả chỉ có vậy.

Spiegel: Ông đã oán trách rằng sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam năm 1975 chủ yếu là do sau Hiệp định Paris, miền Bắc vẫn được phép đóng quân tại miền Nam. Ông khẳng định rằng mình chỉ chấp nhận sự hiện diện đó của miền Bắc trong quá trình đàm phán, còn sau khi ký kết thì Hà Nội phải rút quân.

Nhưng Kissinger lại khẳng định trong hồi ký rằng ông thừa biết việc Hà Nội sẽ tiếp tục trụ lại ở miền Nam, và cho đến tận tháng Mười 1972 ông cũng không hề phản đối những đề xuất của phía Mỹ liên quan đến điểm này.

Nguyễn Văn Thiệu: Đó là một lời nói dối hết sức vô giáo dục của Kissinger, rằng tôi chấp thuận cho quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam. Nếu ngay từ đầu tôi đã chấp thuận như Kissinger nói thì lúc ông ấy cho tôi xem bản dự thảo, trong đó không có điều khoản nào về việc rút quân của Bắc Việt, tôi đã chẳng phản đối quyết liệt như thế.

Điểm then chốt nhất mà tôi dốc sức bảo vệ, từ đầu cho đến khi kết thúc đàm phán, chính là yêu cầu Hà Nội phải rút quân. Tôi đã tuyên bố rõ với Kissinger là nếu không đạt được điều đó thì không có ký kết.

Sau nhiều ngày tranh luận gay gắt, cuối cùng ông ta bảo: “Thưa Tổng thống, điều đó là không thể được. Nếu được thì tôi đã làm rồi. Vấn đề này đã đặt ra ba năm trước, nhưng phía Liên Xô không chấp nhận.” Tôi hiểu ra rằng chính phủ Mỹ đã nhượng bộ trước yêu sách của Liên Xô, và đó là nỗi thất vọng lớn nhất của tôi.

Spiegel: Có lẽ Liên Xô không thể làm khác, vì Hà Nội không chấp nhận coi Nam Việt Nam là một quốc gia khác, và một thời gian dài họ còn phủ nhận việc họ đã đưa quân đội chính quy vào miền Nam.

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi đã chiến đấu hơn 20 năm và học được rằng, đừng bao giờ tin lời Nga Xô và Hà Nội. Bắc Việt đóng quân ở cả Lào, Campuchia và Nam Việt Nam, tôi tin rằng một người mù cũng nhìn ra điều đó. Muốn chấm dứt chiến tranh thì chúng ta phải nhìn vào hiện thực chứ không thể chỉ nghe lời kẻ địch.

Spiegel: Ông có lập luận như thế với Kissinger không?

Nguyễn Văn Thiệu: Tất nhiên, và với cả Tướng Haig nữa. Tôi bảo ông ấy thế này: “Ông Haig, ông là tướng, tôi là tướng. Ông có biết một hiệp định hòa bình nào trong lịch sử lại cho phép kẻ xâm lăng tiếp tục đóng quân tại lãnh thổ mà nó xâm lược không? Ông có cho phép Liên Xô vào Hoa Kỳ đóng quân rồi tuyên bố rằng ông đã ký kết thành công một hiệp định hòa bình với Liên Xô không?”

Spiegel: Ông ấy trả lời sao?

Nguyễn Văn Thiệu: Ông ấy không trả lời được. Mà trả lời thế nào cơ chứ, chuyện đó hoàn toàn vô lý. Còn gì mà nói nữa.

Spiegel: Nhưng Kissinger thì có câu trả lời trong hồi ký. Ông ấy viết rằng khó mà bắt Hà Nội rút quân, vì họ hoàn toàn không sẵn sàng từ bỏ trên bàn đàm phán những thứ mà họ không mất trên chiến trường. Nhưng ông ấy cũng nói rằng trong Hiệp định Paris có một điều khoản không cho phép xâm lấn. Ông ấy đi đến kết luận rằng “lực lượng miền Bắc sẽ tự nhiên tiêu hao sinh lực và dần dần biến mất.”

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi thấy chính phủ Mỹ và đặc biệt là TS Kissinger không hề rút ra được bài học nào khi phải đàm phán với cộng sản, sau những kinh nghiệm đau thương năm 1954 giữa Pháp và cộng sản Việt Nam và từ Chiến tranh Triều Tiên. Họ cũng không học được gì từ những cuộc đàm phán về Lào và Campuchia và cũng không nắm bắt được là nên xử sự thế nào với cộng sản và cần phải hiểu chiến lược và chiến thuật của cộng sản ra sao.

Tức là ta lại phải trở về với vấn đề rằng, vì sao TS Kissinger, người đại diện cho một quốc gia lớn và tự cho mình là nhà thương thuyết giỏi giang nhất, lại có thể tin rằng quân Bắc Việt đóng tại miền Nam sẽ không xâm lấn. Sao ông ấy có thể tin như vậy cơ chứ?

Ông ấy đủ sức kiểm soát từng tấc đất trên biên giới của Campuchia, và của Lào, và của Nam Việt Nam à? Dù có cả triệu nhân viên quốc tế giám sát, chúng tôi cũng không bao giờ có thể khẳng định là đã có đủ bằng chứng rằng không có xâm lấn. Sao ông ấy lại có thể tin những gì Bắc Việt nói. Ông ấy có thể tin lời cộng sản, nhưng chúng tôi thì không. Vì thế mà tôi đã cương quyết đòi Bắc Việt phải rút quân. Nếu họ thực sự muốn hòa bình thì họ ở lại miền Nam làm gì?

Spiegel: Vậy Kissinger nói sao?

Nguyễn Văn Thiệu: Còn nói gì được nữa? Ông ấy và chính phủ Mỹ chỉ muốn chính xác có một điều: rút khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt và đảm bảo việc trao trả tù binh Mỹ. Họ bảo chúng tôi là họ mong muốn một giải pháp trong danh dự, nhưng sự thực thì họ chỉ muốn bỏ của chạy lấy người. Nhưng họ lại không muốn bị người Việt và cả thế giới kết tội là đã bỏ rơi chúng tôi. Đó là thế kẹt của họ.

Spiegel: Kissinger viết rằng, ngay sau Chiến dịch Xuân-Hè 1972 của Hà Nội, các bên dường như đã đổi vai. Hà Nội đột nhiên muốn đàm phán trở lại, còn Sài Gòn thì muốn đánh cho đến khi giành toàn thắng.

Nguyễn Văn Thiệu: Hoàn toàn vô nghĩa! Ông TS Kissinger hiểu thế nào là chiến thắng? Bắc Việt đã đem chiến tranh vào miền Nam. Chúng tôi yêu cầu họ phải rút quân. Thế là chiến thắng hay sao? Tôi chưa bao giờ yêu cầu Bắc Việt tự coi mình là tù binh của miền Nam. Tôi chưa bao giờ yêu cầu Bắc Việt bồi thường cho tổn thất chiến tranh. Tôi chưa bao giờ đòi hỏi Bắc Việt giao nộp lãnh thổ. Tôi chưa bao giờ đòi có chân trong chính phủ ở Hà Nội. Vậy ông Kissinger hiểu thế nào về chiến thắng và toàn thắng?

Spiegel: Về vấn đề rút quân của miền Bắc, 31 tháng Năm 1971 là một ngày quan trọng. Kissinger cho biết là khi đó, trong các cuộc họp kín, Mỹ đã đưa ra yêu cầu hai bên cùng rút quân. Trong hồi ký, ít nhất ba lần TS Kissinger viết rằng không những ông được thông báo trước, mà ông còn chấp thuận.

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi không bao giờ chấp thuận việc rút quân đơn phương. Từ cuộc họp ở Midway, tôi luôn luôn yêu cầu rút quân từng bước và cả hai bên cùng rút. Hoa Kỳ đã thay đổi lập trường và tìm cách ép chúng tôi, với những chiến thuật mà họ thường sử dụng, bằng cách huơ thanh gươm Damocles trên đầu tôi, chẳng hạn họ đem công luận Mỹ ra đe tôi, họ bảo: “Hình ảnh của ông tại Hoa Kỳ hiện nay rất tồi tệ!” Hoặc: “Quốc hội muốn cắt giảm viện trợ.” Vân vân. Họ áp dụng đúng những chiến thuật đã biết, tiết lộ thông tin cho báo giới và đặt tôi trước sự đã rồi.

Nếu tôi từ chối, công luận sẽ quay ra chống tôi: “Ông ta đòi quá nhiều, ông ta sẽ không bao giờ cho Mỹ được rút, ông ta sẽ không bao giờ cho tù binh Mỹ được trở về.” Thế là tôi luôn phải chấp thuận. Không phải tự nguyện, mà miễn cưỡng. Tôi phản đối làm sao được, khi lần nào họ cũng bảo rằng: “Ông mà chống thì sẽ bị cắt viện trợ.”

Spiegel: Kissinger viết rằng trước bất kỳ một quyết định dù dưới hình thức nào, phía Mỹ cũng hỏi ý kiến ông trước.

Nguyễn Văn Thiệu: Vâng, họ hỏi ý kiến tôi, nhưng chắc chắn không phải là để nghe tôi nói “Không”, nếu đó là những quyết định phục vụ cho lợi ích của Hoa Kỳ. Họ ưa gây sức ép hơn, và đạt được gần như mọi thứ bằng cách đó.

Spiegel: Bây giờ Kissinger cay đắng chỉ trích về Chiến dịch Hạ Lào năm 1971. Ông ấy viết rằng, ông đã đồng ý rằng chiến dịch này nhất định phải thực hiện trong mùa khô. Vậy ý tưởng đó ban đầu là của ai?

Nguyễn Văn Thiệu: Của người Mỹ. Trước đó khá lâu, chúng tôi từng có ý định thực hiện, nhưng không đủ khả năng tiến hành một mình. Đến khi phía Mỹ đề xuất thì chúng tôi sẵn sàng đồng ý, để sớm chấm dứt chiến tranh. Chiến dịch đó do liên quân Việt-Mỹ thực hiện và được vạch ra rất rõ ràng: Chúng tôi tác chiến tại Lào, còn phía Mỹ thì hỗ trợ tiếp vận từ Việt Nam và từ biên giới.

Spiegel: Vì sao? Vì Quốc hội Mỹ có luật cấm quân đội Mỹ xâm nhập lãnh thổ Lào?

Nguyễn Văn Thiệu: Vâng, tôi tin là vậy. Nhưng cũng vì chúng tôi không có đủ phương tiện để tiếp tế cho binh lính, và nhất là để cứu thương binh ra ngoài. Việc đó chỉ có thề thực hiện bằng trực thăng, và chỉ phía Mỹ mới có đủ trực thăng. Không có họ thì không đời nào chúng tôi đồng ý thực hiện chiến dịch tại Lào.

Spiegel: Kissinger viết rằng quân của ông gặp khó khăn khi yêu cầu không quân hỗ trợ, vì gần như không có báo vụ viên nói được tiếng Anh.

Nguyễn Văn Thiệu: Hoàn toàn không có vấn đề gì với việc hỗ trợ của không quân. Đôi khi không có thì chúng tôi cũng không lo lắng; chúng tôi có thể dùng pháo binh. Vấn đề là: trong ba ngày mở đầu chiến dịch, phía Mỹ đã mất rất nhiều phi công trực thăng. Vì thế mà họ chần chừ, không bay đúng thời điểm và ở quy mô cần thiết. Điều đó thành ra một vấn đề lớn với quân lực Nam Việt Nam.

Spiegel: Tinh thần binh lính bị suy sụp?

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi không đem được binh lính tử trận và thương binh ra ngoài. Không phải chỉ tinh thần binh lính, mà cả tiến độ của chiến dịch cũng bị ảnh hưởng.

Spiegel: Kissinger nêu ra một lý do khác. Rằng ông đã lệnh cho các sĩ quan chỉ huy phải thận trọng khi tiến về hướng Tây và ngừng chiến dịch nếu quân số tổn thất lên tới 3000. Kissinger viết rằng nếu phía Mỹ biết trước điều đó thì không đời nào họ đồng ý tham gia chiến dịch này.

Nguyễn Văn Thiệu: Đối với một quân nhân, định trước một tổn thất về quân số là điều phi lý. Nếu TS Kissinger nói thế thì ông ấy thật giàu trí tưởng tượng. Chúng tôi chỉ có thể tiến về phía Tây trong giới hạn mà trực thăng cứu viện có thể bay đến. Kissinger bảo là chúng tôi đã rút quân mà không báo cho phía Mỹ. Làm sao chúng tôi có thể triệt thoái trên 10,000 quân mà họ không hay biết gì?

Spiegel: Tức là ông đã thông báo cho họ?

Nguyễn Văn Thiệu: Ồ, tất nhiên. Để tôi kể cho ông nghe một câu chuyện. Hồi đó tờ Time hay tờ Newsweek có đăng bức hình một người lính Nam Việt Nam đang bám vào càng một chiếc trực thăng cứu viện. Bên dưới đề: “Nhát như cáy”. Tôi chỉ cười. Tôi thấy nó tệ. Không thể ngăn một người lính lẻ loi hành động như vậy được. Nhưng báo chí lại kết tội lính Nam Việt Nam là hèn nhát và đồng thời giấu biến sự thật về tinh thần chiến đấu sút kém của phi công trực thăng Mỹ trong chiến dịch này.

Spiegel: Một điểm gây rất nhiều tranh cãi giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam là vấn đề ngưng bắn. Theo cuốn hồi ký của Kissinger thì ngay từ mùa Hè 1970 chính phủ Mỹ đã thống nhất về việc sẽ đề xuất một thỏa thuận ngưng bắn tại các chiến tuyến hiện có. Kissinger khẳng định rằng ông không chỉ chấp thuận mà còn ủng hộ đề xuất này.

Nguyễn Văn Thiệu: Đúng như vậy, tôi cũng cho rằng ngưng bắn phải là bước đầu tiên để đáp ứng một hiệp định hòa bình. Nhưng ngưng bắn ngay lập tức – và tôi xin nhắc lại: ngay lập tức – thì tôi không bao giờ đồng ý với Kissinger. Tôi bảo, chúng ta phải cân nhắc hết sức kỹ lưỡng việc này. Không thể thực hiện ngưng bắn trước khi tính kỹ việc ai sẽ giám sát việc ngưng bắn, nếu ai vi phạm thì hậu quả sẽ thế nào, hai bên sẽ đóng quân ở đâu, vân vân.

Spiegel: Kissinger viết: “Khi đó chúng tôi vẫn tưởng rằng chúng tôi và Thiệu cùng đồng hành hợp tác.” Phía Mỹ đã không hiểu rằng ông đem những “chiến thuật né tránh” mà “người Việt thường áp dụng với người ngoại quốc” ra dùng.

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi là một nước nhỏ, gần như mọi thứ đều nhờ ở một đồng minh lớn và vẫn tiếp tục phải xin viện trợ dài hạn của đồng minh đó, không bao giờ chúng tôi lại cho phép mình dùng những thủ đoạn nào đó.

Spiegel: Khi Mỹ đã rút, còn Hà Nội thì được phép tiếp tục đóng quân ở miền Nam, chắc ông phải thấy là ông đã thua trong cuộc chiến này?

Nguyễn Văn Thiệu: Không hẳn, nếu chúng tôi tiếp tục được sự trợ giúp cần thiết từ phía Mỹ, như chính phủ Mỹ đã hứa khi chúng tôi đặt bút ký hiệp định. Ngay cả khi ký, tôi đã coi đó là một nền hòa bình tráo trở.

Nhưng chúng tôi vẫn tin rằng có thể chống lại bất kỳ sự xâm lăng nào của Bắc Việt. Vì hai lý do: Chúng tôi có lời hứa chắc chắn bằng văn bản của Tổng thống Nixon rằng Hoa Kỳ sẽ phản ứng quyết liệt, nếu Bắc Việt vi phạm hiệp định.

Spiegel: Mặc dù ông ấy không hề cho biết sẽ phản ứng bằng cách nào.

Nguyễn Văn Thiệu: Thứ hai, chúng tôi được đảm bảo là sẽ có đủ viện trợ quân sự và kinh tế cần thiết để chống Bắc Việt xâm lược. Nếu chính phủ Mỹ thực lòng giữ lời hứa thì chiến tranh có thể kéo dài, nhưng miền Nam sẽ không bị Bắc Việt thôn tính.

Spiegel: Về điều này thì ông và Kissinger ít nhiều đồng quan điểm. Ông ấy viết rằng chiến lược toàn cục có thể sẽ thành công, nếu Mỹ đủ khả năng hành động trước bất kỳ một vi phạm nào của Hà Nội và tiếp tục viện trợ đầy đủ cho miền Nam. Nhưng chuyện gì đã xảy ra? Kissinger quy lỗi cho vụ Watergate, vì sau đó Tổng thống Mỹ không còn đủ uy tín. Ông có nghĩ rằng vụ Watergate thực sự chịu trách nhiệm, khiến tất cả sụp đổ không?

Nguyễn Văn Thiệu: Rất tiếc, nhưng tôi không phải là người Mỹ. Tôi không muốn quét rác trước cửa nhà người Mỹ. Nhưng nếu người Mỹ giữ lời hứa thì đó là sự cảnh báo tốt nhất, khiến Bắc Việt không tiếp tục xâm lăng, và chiến tranh có thể sẽ dần chấm dứt.

Spiegel: Nếu Hoa Kỳ giữ lời thì theo ông, hiệp định hoàn toàn có thể thành công?

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi cho là như vậy.

Spiegel: Như vậy về tổng thể, Hiệp định Paris không đến nỗi tồi?

Nguyễn Văn Thiệu: Đó chắc chắn không phải là một hiệp định có lợi cho chúng tôi. Nó tráo trở. Nhưng đó là lối thoát cuối cùng. Ông phải hiểu rằng chúng tôi đã ký kết, vì chúng tôi không chỉ có lời hứa của chính phủ Mỹ như tôi đã nói, mà hiệp định đó còn được mười hai quốc gia và Liên Hiệp Quốc đảm bảo.

Spiegel: Trong cuốn hồi ký, TS Kissinger có những bình luận rát mặt về khá nhiều chính khách đầu đàn. Nhưng riêng ông thì bị ông ấy dành cho những lời hạ nhục nhất. Tuy đánh giá cao “trí tuệ”, “sự can đảm”, “nền tảng văn hóa” của ông, nhưng ông ấy vẫn chú tâm vào “thái độ vô liêm sỉ”, “xấc xược”, “tính vị kỷ chà đạp” và “chiến thuật khủng khiếp, gần như bị ám ảnh điên cuồng” trong cách ứng xử với người Mỹ của ông. Vì thế, cuối cùng Kissinger nhận ra “sự phẫn nộ bất lực mà người Việt thường dùng để hành hạ những đối thủ mạnh hơn về thể lực”. Ý kiến của ông về những khắc họa đó thế nào?

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi không muốn đáp lại ông ấy. Tôi không muốn nhận xét gì về ông ấy. Ông ấy có thể đánh giá tôi, tốt hay xấu, thế nào cũng được. Tôi muốn nói về những điều đã xảy ra giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam hơn.

Spiegel: Hay ông đã làm gì khiến ông ấy có cái cớ để viết về ông với giọng coi thường như thế?

Nguyễn Văn Thiệu: Có thể ông ấy đã ngạc nhiên vì gặp những người quá thông minh và mẫn cán. Có thể cũng do cái phức cảm tự tôn của một người đàn ông hết sức huênh hoang. Có thể ông ấy không tin nổi là người Việt đối thoại với ông ta lại địch được một người tự coi mình là vô cùng quan trọng.

Để tôi kể thêm một câu chuyện nữa: Ở đảo Midway tôi thấy buồn cười, vì thật chẳng bao giờ tôi có thể hình dung là những người như vậy lại tệ đến thế. Chúng tôi, gồm ông Nixon, ông Kissinger, phụ tá của tôi và tôi, gặp nhau ở nhà một sĩ quan chỉ huy hải quân ở Midway. Ở đó có ba chiếc ghế thấp và một chiếc ghế cao. Ông Nixon ngồi trên chiếc ghế cao.

Spiegel: Như trong phim Nhà độc tài vĩ đại của Chaplin? Hitler cũng ngồi trên một chiếc ghế cao để có thể nhìn xuống Mussolini, ngồi trên một chiếc ghế thấp hơn.

Nguyễn Văn Thiệu: Nhưng tôi vào góc phòng lấy một chiếc ghế cao khác, nên tôi ngồi ngang tầm với Nixon. Sau buổi gặp đó ở Midway, tôi nghe bạn bè người Mỹ kể lại rằng Kissinger đã rất bất ngờ vì Tổng thống Thiệu là một người như vốn dĩ vẫn vậy.

Spiegel: Trong hồi ký, Kissinger phàn nàn là đã bị cá nhân ông đối xử rất tệ; ông bỏ hẹn để đi chơi trượt nước. Nixon còn quá lời hơn. Theo Kissinger thì Nixon đã gọi ông là “đồ chó đẻ” (son of a bitch) mà Nixon sẽ dạy cho biết “thế nào là tàn bạo”.

Nguyễn Văn Thiệu: Rất tiếc, nhưng tôi không thể cho phép mình đáp lại những lời khiếm nhã, thô tục đó của Nixon, vì tôi xuất thân từ một gia đình có nề nếp.

Nếu tôi không tiếp TS Kissinger và Đại sứ Bunker thì đơn giản chỉ vì chúng tôi chưa chuẩn bị xong để tiếp tục đàm thoại. Họ đã cần đến 4 năm, vậy vì sao lại bắt tôi trả lời ngay lập tức trong vòng một tiếng đồng hồ? Có lẽ họ sẽ hài lòng, nếu chúng tôi chỉ biết vâng dạ. Nhưng tôi không phải là một người chỉ biết vâng dạ, và nhân dân Nam Việt Nam không phải là một dân tộc chỉ biết vâng dạ, và Quốc hội của chúng tôi không phải là một Quốc hội chỉ biết vâng dạ. Mà tôi phải hỏi ý kiến Quốc hội.

Spiegel: TS Kissinger viết rằng thái độ của ông với ông ấy chủ yếu xuất phát từ “lòng oán hận độc địa”.

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Tôi chỉ bảo vệ lợi ích của đất nước tôi. Dĩ nhiên là đã có những cuộc tranh luận nảy lửa, nhưng thái độ của tôi xuất phát từ tinh thần yêu nước của tôi.

Spiegel: Kissinger viết rằng ông ấy hoàn toàn “thông cảm với hoàn cảnh bất khả kháng” của ông. Ông có thấy dấu hiệu nào của sự thông cảm đó không?

Nguyễn Văn Thiệu: Không, tôi không thấy. Tôi chỉ thấy duy nhất một điều, đó là áp lực từ phía chính phủ Mỹ.

Spiegel: Kissinger viết rằng ông không bao giờ tham gia vào các buổi thảo luận về chủ trương chung. Ông ấy bảo rằng ông chiến đấu “theo kiểu Việt Nam: gián tiếp, đi đường vòng và dùng những phương pháp khiến người ta mệt mỏi hơn là làm sáng tỏ vấn đề”, rằng ông “chê bai mọi thứ, nhưng không bao giờ nói đúng vào trọng tâm câu chuyện”.

Nguyễn Văn Thiệu: Hãy thử đặt mình vào tình thế của tôi: Ngay từ đầu tôi đã chấp nhận để chính phủ Mỹ họp kín với Hà Nội. Kissinger bảo là đã thường xuyên thông báo cho tôi. Vâng, tôi được thông báo thật – nhưng chỉ về những gì mà ông ấy muốn thông báo. Nhưng tôi đã tin tưởng rằng đồng minh của mình sẽ không bao giờ lừa mình, không bao giờ qua mặt tôi để đàm phán và bí mật bán đứng đất nước tôi.

Các ông có hình dung được không: vỏn vẹn bốn ngày trước khi lên đường đến Hà Nội vào tháng Mười 1972, ông ấy mới trao cho tôi bản dự thảo mà sau này sẽ được chuyển thành văn bản hiệp định ở Paris, bằng tiếng Anh? Chúng tôi phải làm việc với bản dự thảo tiếng Anh này, từng điểm một.

Và bản dự thảo đó không phải do Nam Việt Nam cùng Hoa Kỳ soạn ra, mà do Hà Nội cùng Hoa Kỳ soạn ra. Các ông có thể tưởng tượng được điều đó không? Lẽ ra, trước hết phía Mỹ nên cùng chúng tôi thống nhất quan điểm về những điều kiện đặt ra cho hiệp định, và sau đó, nếu Bắc Việt có đề nghị gì khác thì Kissinger phải trở lại hội ý với chúng tôi. Nhưng ông ấy không hề làm như vậy.

Thay vào đó, ông ấy cùng Bắc Việt soạn ra các thỏa thuận rồi trình ra cho tôi bằng tiếng Anh. Các ông có thể hiểu cảm giác của tôi khi cầm văn bản của hiệp định hòa bình sẽ quyết định số phận của dân tộc tôi mà thậm chí không buồn được viết bằng ngôn ngữ của chúng tôi không?

Spiegel: Nhưng cuối cùng ông cũng có bản tiếng Việt?

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi cương quyết đòi bản tiếng Việt, đòi bằng được. Mãi đến phút cuối cùng ông ấy mới miễn cưỡng chấp nhận. Sau đó chúng tôi phát hiện ra rất nhiều cái bẫy. Tôi hỏi Đại sứ Bunker và Kissinger, ai đã soạn bản tiếng Việt. Họ bảo: một người Mỹ rất có năng lực thuộc International Linguistics College tại Hoa Kỳ cùng với phía Hà Nội. Nhưng làm sao một người Mỹ có thể hiểu và viết tiếng Việt thành thạo hơn người Việt. Và làm sao một người Mỹ có thể ứng đối bằng tiếng Việt với cộng sản Bắc Việt giỏi hơn chính chúng tôi? Đồng minh mà như thế thì có chân thành và trung thực không?

Spiegel: Một số quan chức cao cấp ở Hoa Kỳ từng nhận định rằng thực ra Kissinger chỉ cố gắng đạt được một khoảng thời gian khả dĩ giữa việc Mỹ rút quân và sự sụp đổ tất yếu của Nam Việt Nam. Trong cuốn sách của mình, Kissinger bác bỏ quan niệm đó. Ý kiến của ông thì thế nào?

Nguyễn Văn Thiệu: Bất kể người Mỹ nói gì, tôi tin rằng mục đích cuối cùng của chính phủ Mỹ là một chính phủ liên hiệp tại Nam Việt Nam.

Spiegel: Nhưng Kissinger đưa ra cả một loạt điểm để chứng minh rằng không phải như vậy.

Nguyễn Văn Thiệu: Chính phủ Mỹ tìm cách ép chúng tôi phải đồng ý. Để họ có thể hãnh diện là đã thoát ra được bằng một “thỏa thuận danh dự”. Để họ có thề tuyên bố ở Hoa Kỳ rằng: “Chúng ta rút quân về nước, chúng ta đảm bảo việc phóng thích tù binh Mỹ.” Và ở ngoài nước Mỹ thì họ nói rằng: “Chúng tôi đã đạt được hòa bình cho Nam Việt Nam. Bây giờ mọi chuyện do người dân Nam Việt Nam định đoạt. Nếu chính phủ liên hiệp biến thành một chính phủ do cộng sản chi phối thì đó là vấn đề của họ. Chúng tôi đã đạt được một giải pháp danh dự.”

Spiegel: Kissinger viết như sau: “Nguyên tắc mà chúng tôi tuân thủ trong các cuộc đàm phán là: Hoa Kỳ không phản bội đồng minh.”

Nguyễn Văn Thiệu: Ông cứ nhìn miền Nam Việt Nam, Campuchia và toàn bộ Đông Dương hiện nay thì biết. Khi tranh luận với các đại diện chính phủ Mỹ về hiệp định hòa bình, chúng tôi thường có ấn tượng rằng họ không chỉ đóng vai, mà thực tế là đã biện hộ cho ác quỷ.

Spiegel: Có bao giờ ông thấy một chút gì như là biết ơn đối với những điều mà người Mỹ đã làm để giúp nước ông không? Trong cuốn sách của mình, Kissinger viết rằng: “Biết công nhận những cống hiến của người khác không phải là đặc tính của người Việt.”

Nguyễn Văn Thiệu (cười): Về những điều mà Kissinger viết trong cuốn sách của ông ấy thì tôi cho rằng chỉ một người có đầu óc lộn bậy, chỉ một người có tính khí tởm lợm mới nghĩ ra được những thứ như vậy. Trong cuốn sách đó ông ấy còn tỏ ý sợ người Việt sẽ đem những người Mỹ còn sót lại ra trả thù, sau khi Washington bỏ rơi chúng tôi. Không bao giờ chúng tôi làm những điều như thế, không bây giờ và không bao giờ.

Spiegel: Cá nhân ông có cảm thấy một chút hàm ơn nào với họ không?

Nguyễn Văn Thiệu: Hết sức thực lòng: Nếu chính phủ Mỹ không phản bội, không đâm dao sau lưng chúng tôi thì nhân dân Việt Nam mãi mãi biết ơn họ. Có lần, sau khi chúng tôi tranh luận rất kịch liệt về một văn bản trong hiệp định, một số thành viên trong chính phủ của tôi bảo rằng, nếu Kissinger lập công với miền Nam như ông ta đã lập công với miền Bắc thì may mắn biết bao. Tôi bảo họ: nếu ông ấy thương lượng được một nền hòa bình thực sự với Hà Nội thì miền Nam sẽ dựng tượng ông ấy, như MacAthur ở Nam Hàn. Nhưng đáng tiếc là đã không như vậy. Nhìn vào những hậu quả của nền hòa bình ấy: trại tập trung cải tạo, nạn đói, nhục hình tra tấn, hàng ngàn thuyền nhân bỏ mạng trên biển, và một cuộc diệt chủng tàn bạo hơn, hệ thống hơn và hoạch định hơn cả ở Campuchia, tôi nghĩ tốt nhất là người Mỹ nên tự đánh giá những điều mà ông Nixon và ông Kissinger đã gây ra cho miền Nam Việt Nam. Kissinger không có gì để tự hào về nền hòa bình mà ông ấy đã đạt được. Đó là hòa bình của nấm mồ.

Spiegel: Xin cảm ơn ông Thiệu đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.

(Nguồn: “Die Amerikaner haben uns verraten”, tạp chí Spiegel số 50/1979. Những người thực hiện: Engel, Johannes K., Lohfeldt, Heinz P.)

Phạm Thị Hoài (dịch)

Bản tiếng Việt: Báo TreOnline

Posted in vietnamese | Leave a comment

Ukraine nhìn nhận chính quyền cộng sản lãnh đạo đất nước từ 1917- 1991 là tội phạm

Ukraine nhìn nhận chính quyền cộng sản lãnh đạo đất nước từ 1917- 1991 là tội phạm

Nga đang dung những biểu tượng của thời Liên Xô để thao túng miền Đông Ukraine

Ngày 15 tháng Năm 2015, Tổng thống Ukraine, Petro Poroshenko đã ký một điều luật cấm sử dụng mọi hình tượng, mọi luận điệu tuyên truyền của thời cộng sản trên toàn lãnh thổ Ukraine.

Như vậy, dưới điều luật này, chính quyền cộng sản lãnh đạo đất nước từ năm 1917 đến 1991 bị nhìn nhận như là tội phạm. Tất cả những biểu tượng phải loại bỏ, những hình tượng về Cách mạng Bolshevik, về Lenin, Staline và thời kỳ Soviet còn lại trên lãnh thổ Ukraine phải đập bỏ hết.

Theo điều luật này Ukraine cũng khôi phục danh dự, tôn vinh những cá nhân và những nhóm tổ chức tự phát bí mật đứng lên chống lại chính quyền Soviet trong thời kì từ 1917 đến 1991. Điều luật này cũng áp dụng cho cả thời kì Đức Quốc xã chiếm đóng trong Thế chiến II.

Điều luật này quyết định lấy ngày 8 tháng Năm hằng năm là ngày Hòa hợp và Tưởng nhớ những người hy sinh trong Thế chiến II, không sử dụng cụm từ “Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại” như Liên Xô đã dùng trước đây và Nga đang sử dụng hiện nay.

Tượng Lenin tại Ukraine bị dân chúng mang ra diễu cợt

Việc loại bỏ tất cả những gì liên quan tới thời Soviet sẽ tạo thuận lợi để đưa đất nước gần với giá trị của Âu châu hơn, nhân bản hơn. Gần đây, dân Ukraine nhận ra rằng điện Cẩm Linh đang sử dụng những mánh khóe, tự tâng bốc công lao, thêu dệt những huyền thoại về Thế chiến II, về “Cuộc chiến Vệ quốc Vĩ đại” để thao túng mâu thuẫn ở miền Đông Ukraine.

Nga phản ứng khá gay gắt trước đạo luật mới của Ukraine.

© Trần Gia Hồng Ân
© Đàn Chim Việt

Posted in vietnamese | Leave a comment

TNLT Lê Thị Phương Anh: Cán bộ điều tra dùng nhục hình trong quá trình lấy cung

TNLT Lê Thị Phương Anh: Cán bộ điều tra dùng nhục hình trong quá trình lấy cung

TNLT Lê Thị Phương Anh -vừa mãn hạn tù vào ngày 15.05.2015- tố cáo, trong quá trình điều tra lấy cung, điều tra viên đã dùng nhục hình như đánh đập, lăng mạ, chửi bới… bà.

“Đối với mình trại giam cứ như là một địa ngục vậy, nó áp bức tinh thần mình kinh lắm. Họ [cán bộ] đối xử với mình như một con xúc vật, con chó vậy. Họ đánh đập chửi bới mình, họ dùng tù nhân để đánh đập mình, chèn ép mình trong tù”, bà Phương Anh nói.

Sau khi bị bắt giam vào ngày 14.05.2014, bà Phương Anh đã tuyệt thực 15 ngày phản đối hành vi đánh người và bắt giam người trái pháp luật.

Bà Lê Thị Phương Anh khi mới ra tù. Ảnh FB Quynh Mai

Cán bộ điều tra dùng nhục hình trong quá trình lấy cung

Trong khi bà Phương Anh bị tạm giữ, tạm giam để điều tra xét hỏi thì bà đã bị các công an, gồm ba người mặc sắc phục là ông Hoàng Thái Thi, ông Hoàng Liên Sơn, bà Phạm Minh Hà và một người không mặc sắc phục tên là Nam khủng bố tinh thần, dùng nhục hình trong quá trình lấy cung. Bà Phương Anh nhớ lại và kể cho GNsP:

“Họ thẩm vấn tôi suốt hai tháng liên tục từ 7 giờ sáng đến 8 giờ tối, buổi trưa họ cho nghỉ một chút. Thời gian bị giam trong trại giam B5 đối với Phương Anh rất kinh khủng, bị khủng hoảng tinh thần, nó ép cung mình, nó ép mình ký, đánh đập mình, tra hỏi mình.

Trong khi lấy lời khai, Phương Anh mà không chịu khai thì có một người đàn ông tên là Nam mặc thường phục xông vào đánh Phương Anh, ông ta dùng tay đánh, cầm đầu mình dụi xuống bàn làm việc liên tục, lấy tay tát vào mặt mình liên tục, còn chửi bới, lăng mạ Phương Anh là kẻ phản động. Trong quá trình lấy cung, họ thường xưng mày tao với mình, mày là con phản động, con đĩ… nhục mạ mình ghê gớm lắm.

Phương Anh có ghi bản tự khai nhưng họ không đồng ý, mà họ ép Phương Anh phải ký vào các lời khai cũng như các biên bản do họ bịa đặt. Phương Anh kiên quyết không ký thì họ hứa rằng sẽ cho Phương Anh gặp mẹ và các con của mình nếu như đồng ý ký. Phương Anh bị khủng hoảng quá nên phải ký vào những gì họ muốn.”

Trong lúc trao đổi với phóng viên GNsP, bà Phương Anh ngậm ngùi, mắt đỏ hoe, bật khóc nức nở và kể tiếp trong nỗi uất hận: “Đến thời gian mẹ và con mình đi thăm nuôi thì họ lại không cho mình gặp gia đình như họ đã hứa. Thế nhưng hôm đó, họ cho Phương Anh đứng ở trên lầu nhìn xuống thấy mẹ và con, đang đứng đợi mình ở dưới sân của trại giam đang gào khóc gọi mình. Hôm đó, đối với Phương Anh là một nỗi đau không thể nào tả xiết được. Bởi vì, mẹ mình cứ gọi ‘Con ơi, mẹ đây… Con ơi, mẹ đây… Con ơi! Con ơi!…”. Con của mình thì cứ khóc thét lên “Mẹ ơi!… Mẹ ơi!… Mẹ ơi!…” Lúc đó, Phương Anh không thể làm gì được, không thể ôm mẹ và con vào lòng được, không thể nói với mẹ và con một lời nào được… Lúc ấy, mình quyết nhảy xuống lầu để ôm mẹ và con vào lòng dù có chết, nhưng 7-8 công an đã giữ chặt lấy mình và kéo mình lại, nên mình không thể làm gì được.

Lúc đó, họ nói với mình rằng, ‘mẹ chị hứa đi vào trại giam một mình nhưng lại đi chung với một nhóm người phản động, nên chúng tôi không cho chị thăm gặp gia đình’. Phương Anh biết rằng, đây là cái mưu mô xảo quyệt của bọn chúng để hà hiếp gây khủng hoảng tinh thần cho mình. Một đứa con nít đã phải vượt hơn 2000 cây số vào thăm mẹ nhưng bọn chúng lại không cho. Mẹ nó đã chấp nhận ký vào hai tờ khai của bọn chúng để được gặp và ôm con vào lòng, nhưng bọn chúng lại đối xử ác với mình như vậy. Mình rất hận!”.

“Thứ mày chỉ có chết đi, xin thuốc làm gì?…”

Bà Phương Anh cũng cho biết, trong suốt một năm bị giam cầm, các công an đã xâm phạm, chà đạp đến quyền con người của các tù nhân. Bà Phương Anh nói:

“Trong thời gian bị giam cầm, họ giam mình trong một phòng nhỏ lắm nhưng lại có ba người [hai người khác cùng giam chung với bà Phương Anh], mà những người này luôn tìm cách đánh đập mình. Trong thời gian đó, Phương Anh bị ốm liên tục do bị bệnh tim, bệnh xoang và viêm bao tử. Mỗi lần ốm, mình xin thuốc uống thì họ nói là ‘thứ mày chỉ có chết đi, xin thuốc làm gì?…’

Đồ ăn thức uống của trại giam cứ như là cho một con heo ăn vậy: cơm lúc có lúc không; rau muống họ luộc vẫn còn rễ, còn đất, trứng ốc bám đầy trên cọng rau… Lâu lâu họ cho ăn thịt heo nhưng không phải là thịt mà là cái mũi của con heo nái bị bầm dập, bầm tím, nấu không chín nên không thể ăn nổi…

Căn- tin của trại giam bán đồ rất đắt, cắt cổ, bình nước uống khoảng 20 lít với giá 75 ngàn, một con cá nhỏ bằng ngón tay cái với giá 30 nghìn một con…”

“Chính cách đối xử của họ đã giúp mình thoát được nỗi sợ hãi, lì lợm hơn và chai sạn hơn. Mình sẽ tiếp tục cùng với chồng mình đấu tranh cho đến cùng.”

Trong những lúc bị đối xử đớn đau tột cùng về thể xác và tinh thần mà không có ai bên cạnh đỡ nâng, bà Lê Thị Phương Anh đã nhiều lần có ý định tự tử trong trại giam. Bà Phương Anh cho biết:

“Nhiều khi mình cứ nghĩ quẩn và muốn tử tự trong tù luôn cho rồi bởi vì mình bất mãn quá, mệt mỏi quá rồi. Nhưng mình nghĩ đến ba đứa con và chồng mình đã chịu nhiều thiệt thòi cho mình nên mình lấy lại tinh thần để sống.

Điều quan trọng nhất mà Phương Anh học được trong chốn lao tù đó là, chính cách đối xử của họ đã giúp mình thoát được nỗi sợ hãi, lì lợm hơn và chai sạn hơn. Mình sẽ tiếp tục cùng với chồng mình đấu tranh cho đến cùng. Nếu như mình có bị bắt thêm một lần nữa thì mình cũng không sợ nữa.”

Bà Phương Anh cũng cho biết thêm, chính đời sống tâm linh đã giúp bà có sự bình an trong tâm hồn, sự mạnh mẽ được khơi dậy trong chính nội lực của bản thân bà để thoát khỏi những đắng cay, tủi nhục trong chốn ngục tù. Bà Phương Anh cho hay:

“Mình là con nhà Phật nên thường xuyên niệm Phật trong trại giam. Trong khi bị giam, mình giam chung với một tù nhân đạo Công Giáo. Cô ấy thường đọc kinh và hát về Đức Mẹ. Mình nghe những bài hát của cô ấy tự nhiên cảm thấy bình an, mạnh mẽ hơn rất là nhiều nên mình đã nhờ cô ấy tập hát cho mình. Cô ấy tập cho mình bài hát Xin Vâng, Kinh Hòa Bình và Năm Xưa Trên Cây Sồi. Mỗi lần có tù nhân nào mà muốn hành hung mình thì mình liền hát những bài hát này và họ không đánh mình nữa. Sau này, họ còn quý mến mình nữa.”

Được biết, sau khi ra khỏi trại giam, bà Lê Thị Phương Anh cùng với gia đình và một số người bạn của bà đã đến hang đá Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, tại giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài Gòn, dâng lên lời tạ ơn. Bà Phương Anh chia sẻ: “Khi mà mình đứng trước hang đá Đức Mẹ Maria, mình đã cảm ơn Mẹ đã che chở cho mình ở trong tù. Mình xin Mẹ dẫn đường chỉ lối cho mình biết phải làm gì.”

Bà Phương Anh gửi lời cám ơn tất cả những người bạn của bà ở gần xa đã quan tâm đến bà và gia đình trong suốt thời gian vừa qua.

Vào ngày 12.05.2015, bà Lê Thị Phương Anh cùng với hai người bạn của bà là anh Đỗ Nam Trung và anh Phạm Minh Vũ bị Tòa án Nhân dân Tỉnh Đồng Nai quy kết vào điều 258 BLHS “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân’.

Bà cùng với hai người bạn bị bắt vào ngày 15.05.2014 tại Biên Hòa – Đồng Nai, khi đang tìm hiểu thực tế về các vụ biểu tình bạo động của công nhân Đồng Nai, làm việc trong các công ty Đài Loan và Trung Quốc chống lại dàn khoan HD 981 vào trung tuần tháng 5.2014.

Bà Lê Thị Phương Anh là một trong những người có tiếng nói khác với nhà cầm quyền, tích cực tham gia các cuộc xuống đường chống Hoa lục trước sự xâm chiếm biển đảo của VN, tham gia các phiên tòa xét xử của những người yêu nước, tham dự các buổi tưởng niệm…

Chia sẻ của bà, sau khi ra tù: “… chính cách đối xử của họ đã giúp mình thoát được nỗi sợ hãi, lì lợm hơn và chai sạn hơn. Mình sẽ tiếp tục cùng với chồng mình đấu tranh cho đến cùng. Nếu như mình có bị bắt thêm một lần nữa thì mình cũng không sợ nữa” tiếp thêm sức mạnh cho những người đấu tranh vì nhân quyền, là “cái tát” thẳng vào mặt những kẻ vong nô, “hèn với giặc- ác với dân”.

Pv.GNsP

Posted in vietnamese | Leave a comment

“Tiếng Gọi Công Dân”

“Tiếng Gọi Công Dân”

Tóm lược: Ca khúc “Tiếng Gọi Công Dân” được dùng làm quốc ca của Việt Nam Cộng Hòa một cách hợp pháp qua các sự kiện lịch sử và học thuyết pháp lý, và nói lên tinh thần dân tộc của người miền Nam không có sự đố kỵ tác giả nhạc điệu, Lưu Hữu Phước, là đảng viên cộng sản. Bài hát là một bài quốc ca bất hủ, có giai điệu trầm bổng, hùng hồn, tiết tấu thay đổi, và lời ca có bố cục chặt chẽ, phù hợp với nhạc điệu và dùng chữ hữu hiệu, đượm nét dân tộc, kêu gọi toàn dân Việt Nam nổi dậy bảo vệ non sông và cứu nguy đất nước. “Tiếng Gọi Công Dân” nên được dùng là biểu tượng quốc gia cho Việt Nam, hoặc ít nhất là biểu tượng cho phong trào đấu tranh cho tự do dân chủ tại Việt Nam.

***
Ca khúc “Tiếng Gọi Công Dân” là bài quốc ca của Việt Nam trong thời kỳ Quốc Gia Việt Nam (1948-1955) và miền Nam Việt Nam dưới thời Việt Nam Cộng Hòa (Đệ Nhất và Đệ Nhị) (1956-1975). Tác giả bài hát này thường được cho là Lưu Hữu Phước, nhưng thực ra bài “Tiếng Gọi Công Dân” chỉ dùng nhạc điệu của bài “La Marche Des Étudiants” do Lưu Hữu Phước viết nhạc, nhưng lời thì do Đài phát thanh Sài Gòn viết lại, khác đến 85% phiên bản tiếng Việt sau này của Lưu Hữu Phước. Sự ra đời của “Tiếng Gọi Công Dân” là quốc ca của Quốc Gia Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) có nhiều chi tiết thú vị, nhất là vì Lưu Hữu Phước là đảng viên đảng cộng sản Bắc Việt trong thời chiến tranh Nam Bắc. Những chi tiết về lịch sử của “Tiếng Gọi Công Dân” sẽ được trình bàu sau.

Tác giả của “Tiếng Gọi Công Dân” gồm có Lưu Hữu Phước về âm nhạc và Đài phát thanh Sài Gòn về lời nhạc. Vì tôi không rõ ai trong Đài phát thanh Sài Gòn viết lại lời nhạc, sau đây tôi chỉ trình bày vắn tắt tiểu sử của Lưu Hữu Phước (Wikipedia 2015h). Tuy nhiên, ta không nên quên sự đóng góp của những người vô danh của Đài phát thanh Sài Gòn.
Lưu Hữu Phước sinh năm 1921 tại tỉnh Cần Thơ. Khoảng cuối thập niên 1930, ông lên Sài Gòn học tại trường Petrus Ký. Vào cuối năm 1939, ông sáng tác bài hát “La Marche des Étudiants,” và cùng Mai Văn Bộ đặt lời tiếng Pháp để làm bài hát chính thức của Câu lạc bộ học sinh. Sau khi đỗ tú tài, Lưu Hữu Phước ra Hà Nội học trường Y – Dược, thuộc Viện Đại học Đông Dương (1940-1944). Thời này, phong trào đấu tranh chính trị của sinh viên Đông Dương rất mạnh mẽ. Lưu Hữu Phước nhanh chóng trở thành một trong những thủ lĩnh của phong trào,
Năm 1944, Lưu Hữu Phước tham gia Việt Minh và được giao phó những nhiệm vụ vận động cách mạng. Sau đó, ông hoạt động với cộng sản Bắc Việt về các lãnh vực văn hóa và âm nhạc. Sau năm 1975, ông làm Viện trưởng Viện Nghiên cứu Âm nhạc (1978-1989), và đảm nhận nhiều chức vụ về văn hóa, giáo dục, và nghệ thuật trong nhóm cầm quyền cộng sản. Ông mất năm 1989 tại Sài Gòn.
Các tác phẩm nổi tiếng của ông gồm có Tiếng Gọi Thanh Niên, Bạch Đằng Giang, Hồn Tử Sĩ, Giải Phóng Miền Nam (ca khúc đại diện Việt cộng).
Nguyên văn lời bài hát “Tiếng Gọi Công Dân” như sau (Ban 2009):
Này công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng
Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống.
Vì tương lai quốc dân, cùng xông pha khói tên,
Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền.
 
Dù cho thây phơi trên gươm giáo,
Thù nước, lấy máu đào đem báo.
Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy,
Người công dân luôn vững bền tâm trí.
Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời!
 
Công dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ!
Công dân ơi! Mau làm cho cõi bờ
Thoát cơn tàn phá, vẻ vang nòi giống
Xứng danh nghìn năm giòng giống Lạc Hồng!
 

Trong bài này, tôi sẽ trình bày bối cảnh và các diễn tiến lịch sử dẫn đến sự ra đời của “Tiếng Gọi Công Dân” và phân tích các khía cạnh pháp lý về việc ca khúc này được dùng là quốc ca của VNCH. Ngoài ra, như thường lệ, tôi sẽ thảo luận về các khía cạnh của bài hát, nội dung và hình thức. Tôi dùng “khán giả” để chỉ người nghe, người đọc, và người xem.

A. “Tiếng Gọi Công Dân” ra đời trong thời kỳ sôi bỏng tại Đông Dương với sự hình thành của quốc gia Việt Nam độc lập
Có nhiều tài liệu viết về nguồn gốc của “Tiếng Gọi Công Dân” và các tiền thân của bài hát (Xem, thí dụ như, Bạch 2014; Biển Nhớ; Nguyễn Lưu Viên; Nguyễn Ngọc Huy), và có rất nhiều tài liệu lịch sử về những biến cố và sự kiện xảy ra trong khoảng đầu thế kỷ 20 tại Đông Dương và Việt Nam. Sau đây, tôi sẽ chỉ trình bày vắn tắt các khía cạnh liên hệ đến Lưu Hữu Phước và “Tiếng Gọi Công Dân” là quốc ca của Quốc Gia Việt Nam và VNCH.
Năm 1939 mở đầu thời kỳ dầu sôi lửa bỏng tại Đông Dương và thế giới khi Thế Chiến II bùng nổ. Cuối năm này, Lưu Hữu Phước viết nhạc và Mai Văn Bộ viết lời (tiếng Pháp) “La Marche des Étudiants.”
Năm 1941, Lưu Hữu Phước viết lời Việt và đổi tựa bài là “Tiếng Gọi Sinh Viên” hay “Sinh Viên Hành Khúc,” được Tổng hội Sinh Viên Đông Dương dùng là ca khúc nghi lễ của Tổng hội. Có tài liệu cho biết Mai Văn Bộ và Nguyễn Thành Nguyên viết lời Việt cho “Tiếng Gọi Sinh Viên” (Nguyễn Lưu Viên).
Năm 1941, Hồ Chí Minh và các đồng chí thành lập Việt Minh là một tổ chức võ trang phục vụ các mục tiêu cộng sản được Tàu cộng giao phó. Vì chủ nghĩa cộng sản bị nguyền rủa bởi các thành phần quốc gia yêu nước, Hồ và các đồng chí gian manh giở trò lừa đảo bằng cách ngụy trang Việt Minh là một tổ chức quốc gia, chống Pháp (Cao-Đắc 2014). Biết bao nhiêu người trẻ tuổi có lòng yêu nước đã bị Việt Minh lừa đảo để tham gia hoặc ủng hộ Việt Minh. Đến khi họ khám phá ra bộ mặt thật của Việt Minh là cộng sản, thì quá trễ vì họ đã dính líu quá sâu vào những hoạt động cộng sản. Do đó, những người trẻ ái quốc này “bị buộc phải hợp tác với đảng cộng sản” (Buttinger 1967, 266). Những chi tiết về Việt Minh và mánh khóe của Hồ và các đồng chí đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích lý do tại sao Lưu Hữu Phước, tác giả của một ca khúc kêu gọi sinh viên nổi dậy cho tổ quốc, sau này gia nhập Việt Minh.
Ngày 11 tháng 3 năm 1945, vua Bảo Đại tuyên bố độc lập, thu hồi chủ quyền cho toàn quốc Việt Nam. Chính phủ Trần Trọng Kim, thành lập ngày 17 tháng 4 năm 1945, mở đường cho một cuộc lấy quyền lực sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh vào ngày 15 tháng 8 năm 1945.
Ngay sau khi được thành lập, ngày 8 tháng 5 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim lựa chọn biểu tượng quốc gia, đổi tên nước thành Ðế Quốc Việt Nam và chọn quốc kỳ nền vàng có một quẻ Ly màu đỏ ở giữa. Về quốc ca, có tài liệu cho rằng quốc ca là bản “Việt Nam Minh Châu Trời Ðông” của nhạc sĩ Hùng Lân (Nguyễn Ngọc Huy). Tuy nhiên, theo một số tài liệu, bản “Đăng Đàn Cung,” bản quốc ca hoặc nhạc triều đình trước đó, vẫn được dùng là quốc ca (Marr 1995, 121). Trong hồi ký ông, Trần Trọng Kim viết, “Bài quốc ca thì từ trước vẫn dùng bài ‘Ðăng Ðàn’ là bài ca rất cổ, mà âm điệu nghe nghiêm trang. Chúng tôi nghĩ: trước khi có bài nào hay hơn và có nghĩa lý hơn thì hãy cứ dùng bài ấy” (Trần 1969, 60-61).
Tuy hiện hữu chỉ trong một thời gian ngắn (Marr 1995, 351-352), chính phủ Trần Trọng Kim có những đóng góp tích cực mở đường cho những hoạt động xây dựng một đất nước hùng mạnh vừa mới được giành độc lập. Oái oăm thay, cộng sản lợi dụng những đóng góp này trong việc cướp đoạt chính quyền bất hợp pháp vào tháng 8 năm 1945 trong cái gọi là cách mạng tháng tám (Cao-Đắc 2014). Dự án đáng nể nhất của chính phủ Trần Trọng Kim là tổ chức giới trẻ và thanh niên. Vào ngày 25 tháng 5 năm 1945, một nghị định hoàng gia đặt ra một cơ cấu có thứ tự cho các tổ chức thanh niên (Vu 1986, 309-310).
Quan trọng nhất trong các tổ chức thanh niên là tổ chức Thanh niên Tiền Phong (TNTP), được Thống đốc Nam Kỳ Minoda cho phép thành lập ngày 21 tháng 4 năm 1945 (Marr 1995, 134-135; Nguyễn Ngọc Huy; Wikipedia 2015c). TNTP là một tổ chức thành lập dựa vào mô hình Hướng đạo Việt Nam và Tổng hội sinh viên Đông Dương, và được sự giúp đỡ của chính phủ Trần Trọng Kim dưới sự bảo trợ của Nhật (Wikipedia 2015c). TNTP có hàng vạn thành viên lúc mới thành lập, tích cực tham gia các hoạt động xã hội như tải thương nạn nhân bom đạn, giúp đỡ nạn đói (Marr 1995, 134; Nguyễn Ngọc Huy). Trong dịp lễ tuyên thệ của TNTP vào tháng 7, 1945 tại Sài Gòn, có 50.000 thành viên tham dự. Thành viên của ủy ban lãnh đạo TNTP gồm có Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Thủ, Trần Bửu Kiếm, Huỳnh Văn Tiếng, Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước, và Lê Văn Huấn (Marr 1995, 135; Wikipedia 2015c). Cộng sản, dưới chiêu bài yêu nước do Việt Minh rêu rao, xâm nhập vào các hội đoàn sinh viên và thanh niên (Marr 1995, 134-135, 217-218; Vu 1986, 309-310), dẫn đến việc TNTP sau này giải tán và nhiều thành viên gia nhập Việt Minh.
Năm 1945, TNTP sửa đổi thêm lời bài hát “Sinh Viên Hành Khúc” và đổi tựa bài thành “Tiếng Gọi Thanh Niên” hay “Thanh Niên Hành Khúc” và dùng bài hát là ca khúc của tổ chức (Wikipedia 2015b). Như sẽ được trình bày sau, vì TNTP là một tổ chức thuộc chính phủ, ca khúc “Tiếng Gọi Thanh Niên” trở thành ca khúc thuộc chính phủ Đế Quốc Việt Nam.
Ngày 7 tháng 12 năm 1947, Quốc Gia Việt Nam được thành lập và có nhiều nội các chính phủ cho tới năm 1955. Nội các chính phủ trong thời Quốc Gia Việt Nam thay đổi nhiều lần, bắt đầu với Nguyễn Văn Xuân (1948-1949) cho đến Ngô Đình Diệm (1954-1955) (Wikipedia 2015a).
Năm 1948, chính phủ Nguyễn Văn Xuân của Quốc Gia Việt Nam chọn bài “Thanh Niên Hành Khúc” làm quốc ca với tên mới là “Tiếng Gọi Công Dân” hay “Công Dân Hành Khúc.” Theo Trần Văn Đôn, ông, Nguyễn Khánh, Lê Văn Kim, và Lê Văn Đức “đề nghị thay lá cờ vàng chữ Ly có từ chánh phủ Trần Trọng Kim ra cờ vàng ba sọc đỏ tượng trưng giòng máu dân của ba miền và lấy bài Thanh Niên Hành Khúc của Lưu Hữu Phước làm Quốc ca vì lời ca hùng hồn” (trích trong Hoàng 2002, 2177). Về Lưu Hữu Phước, Trần Văn Đôn viết, “Lúc đó tôi nghĩ Lưu Hữu Phước cũng như bao nhiêu thanh niên yêu nước khác đứng lên tranh đấu giành độc lập cho đất nước chứ chưa phải là một đảng viên cộng sản. Hơn nữa bài ca này đã sáng tác trước ngày Việt Minh lên nắm chánh quyền. Vì vậy mà Đại hội đồng ý chấp thuận đề nghị của chúng tôi” (trích trong sđd.).
Ngày 23 tháng 10 năm 1955, Ngô Đình Diệm, bấy giờ là Thủ tướng, tổ chức một cuộc cuộc trưng cầu dân ý truất phế Bảo Đại. Chính thể VNCH được thành lập vào ngày 26 tháng 10 năm 1955. Tháng 3 năm 1956, chính phủ tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội Lập hiến. Sau đó, “Quốc Hội Lập Hiến khai mạc vào tháng 3 năm 1956 và có nhiệm vụ chọn quốc ca và quốc kỳ” (Biển Nhớ). Sau khi xem xét và đánh giá các bài hát gửi cho tuyển chọn, Quốc hội Lập Hiến quyết định không lựa bài mới nào, và “duy trì bài quốc ca mà các chính phủ Nguyễn Văn Xuân và Nguyễn Văn Tâm đã chọn trước đó rồi ra lệnh cho nhân viên Đài phát thanh Sài Gòn sửa lại lời ca” (sđd.). Đài phát thanh Sài Gòn sửa chữa thêm để làm thành bản quốc ca của VNCH với tên gọi “Tiếng Gọi Công Dân” và ca khúc này là quốc ca của hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa tại Việt Nam cho tới năm 1975. Ca khúc “Tiếng Gọi Công Dân” tiếp tục được duy trì là quốc ca của chính thể VNCH cho cộng đồng người Việt hải ngoại sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Sau đây là lời ca khúc “Tiếng Gọi Sinh Viên” và “Tiếng Gọi Thanh Niên.” Tôi chỉ trích phiên khúc gần giống nhất với bài “Tiếng Gọi Công Dân” cho so sánh. Có nhiều phiên bản khác nhau và một bản có thể có nhiều phiên khúc. Độc giả có thể tìm đọc thêm tại các tài liệu khác (Xem, thí dụ như, ConHoiThoConDauTranh 2011; Wikipedia 2015b). Phần in đậm cho thấy những chỗ khác với “Tiếng Gọi Công Dân.”
“Tiếng Gọi Sinh Viên”:
Này sinh viên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi!
Đồng lòng cùng đi, đi, đi mở đường khai lối
non sông nước xưa, truyền muôn năm chớ quên,
Nào anh em Bắc Nam! Cùng nhau ta kết đoàn!
 
Hồn thanh xuân như gương trong sáng,
Đừng tiếc máu nóng, tài xin ráng!
Thời khó, thế khó, khó làm yếu ta,
Dầu muôn chông gai vững lòng chi sá
Đường mới kíp phóng mắt nhìn xa bốn phương,
Tung cánh hồn thiếu niên ai đó can trường.
 
Sinh viên ơi! Ta quyết đi đến cùng!
Sinh viên ơi! Ta thề đem hết lòng!
Tiến lên đồng tiến! Vẻ vang đời sống!
Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng!
“Tiếng Gọi Thanh Niên”:
Này thanh niên ơi, tiến lên đến ngày giải phóng
Đồng lòng cùng đi đi đi sá gì thân sống
Nhìn non sông nát tan thù nung tâm chí cao
Nhìn muôn dân khóc than, hờn sôi trong máu đào.
 
Liều thân xông pha ta tranh đấu
Cờ nghĩa phất phới vàng pha máu
Cùng tiến quét hết những loài dã man
Hầu đem quê hương thoát vòng u ám
Thề quyết lấy máu nóng mà rửa oán chung
Muôn thuở vì núi sông nêu tiếng anh hùng.
 
Anh em ơi mau tiến lên dưới cờ
Thanh niên ơi quật cường nay đến giờ
Tiến lên cùng tiến gió tung nguồn sống
Cháy trong lòng ta ngàn mớ lửa hồng
Trong phần sau đây, cho vắn tắt, tôi dùng “Sinh Viên,” “Thanh Niên,” và “Công Dân” với các chữ “Tiếng Gọi” hoặc “Hành Khúc” được hiểu ngầm.
Toàn bài “Thanh Niên” có 120 chữ. Trong số này, chỉ có 18 chữ là giống y hệt với bài “Công Dân.” Hai phiên bản, do đó, khác nhau 85%. Với mức độ khác nhau quá nhiều, ta có thể coi như lời bài hát được hoàn toàn viết lại bởi chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.
B. Ca khúc “Tiếng Gọi Công Dân” dùng làm quốc ca của VNCH một cách hợp pháp và nói lên tinh thần dân tộc của người miền Nam:
Sự kiện quốc ca của Quốc Gia Việt Nam và VNCH được viết bởi một đảng viên cộng sản gây ra nhiều câu hỏi. Theo một số tài liệu, chính Lưu Hữu Phước “từ năm 1949, đã viết thư kịch liệt phản đối mạnh mẽ về việc này” (Bạch 2014). Trong thời chiến tranh Nam Bắc, từ Hà Nội, Lưu Hữu Phước từng lên Đài tiếng nói Việt Nam (Hà Nội) “liên tục bác bỏ, giễu cợt và cả mắng nhiếc về việc bài hát Sinh Viên Hành Khúc của ông ‘vẫn cứ bị người bên kia chiến tuyến sử dụng vào một mục đích khác!’ “(sđd.).
Câu hỏi đặt ra là sự chống đối của Lưu Hữu Phước có chính đáng không, và chính phủ VNCH có hành động đúng khi dùng nhạc của một đảng viên cộng sản là nhạc cho quốc ca. Câu trả lời ngắn là sự chống đối của Lưu Hữu Phước hoàn toàn vô giá trị và chính phủ VNCH hành động hợp pháp khi dùng nhạc của ông là quốc ca của VNCH, như được trình bày sau đây.
1. Lưu Hữu Phước đã nhường, hoặc mất, quyền sở hữu ca khúc “Tiếng Gọi Thanh Niên” cho Đế Quốc Việt Nam, Quốc Gia Việt Nam, và VNCH từ năm 1945:
Có hai khía cạnh pháp lý xác định Lưu Hữu Phước đã mất quyền sở hữu ca khúc “Thanh Niên” và nhạc điệu cho ca khúc “Công Dân” cho Đế Quốc Việt Nam, Quốc Gia Việt Nam, và VNCH: (1) TNTP là một tổ chức thuộc Đế Quốc Việt Nam, và (2) Học Thuyết Ngăn Chận không cho phép Lưu Hữu Phước phản đối việc dùng nhạc của ông.
Thảo luận về các khía cạnh pháp lý về vấn đề bản quyền của Lưu Hữu Phước ra ngoài phạm vi của bài này, vì nó đòi hỏi tìm tòi về luật bản quyền tại Việt Nam vào năm Lưu Hữu Phước viết nhạc cho bài “La Marche des Étudiants.” Ta không rõ lúc bấy giờ có luật bản quyền hay không, và nếu có, các điều luật đó như thế nào. Tuy nhiên, việc đó thực ra không quan trọng, vì cho dù Lưu Hữu Phước có bản quyền lúc ông sáng tác bài “La Marche des Étudiants,” ông đã nhường, hoặc mất, quyền đó lại cho Tổng hội Sinh viên Đông Dương và tổ chức TNTP, cũng như nhạc sĩ Văn Cao đã nhường quyền sở hữu ca khúc “Tiến Quân Ca” cho Việt Minh năm 1944.
a, Tổ chức TNTP là một tổ chức thuộc Đế Quốc Việt Nam và do đó ca khúc “Thanh Niên” của tổ chức này thuộc về Đế Quốc Việt Nam.
Vào tháng 7, 1945, một phái đoàn 38 người của TNTP ra Huế để gặp vua Bảo Đại. Bảo Đại phong Phạm Ngọc Thạch, người đứng đầu phong trào TNTP, là đại diện về thanh niên cho chính phủ hoàng gia tại miền Nam (Marr 1995, 135). Chi tiết này rất quan trọng vì nó thiết lập căn bản pháp lý của TNTP: đó là một cơ quan thuộc Ðế Quốc Việt Nam và hoạt động dưới sự bảo trợ của chính phủ Trần Trọng Kim.
TNTP là một tổ chức bán quân sự (paramilitary). Thành viên được huấn luyện dùng vũ khí, mặc đồng phục (áo trắng, quần short sẫm) (Marr 1995, 134, 381), có cờ và ca khúc chính thức (“Thanh Niên”), có quyền cho thẻ căn cước trong một số vùng (Marr 1995, 135). Để có thể hoạt động với phạm vi và thẩm quyền như vậy, TNTP phải có một qui chế hiện hữu chính thức và ngân quỹ dồi dào. Quy chế và tài trợ đó chỉ có thể đến từ chính phủ Trần Trọng Kim của Ðế Quốc Việt Nam. Do đó, những sản phẩm hoặc kết quả của TNTP đương nhiên là thuộc về Ðế Quốc Việt Nam. Vì vậy, khi Lưu Hữu Phước để ca khúc “Thanh Niên” dùng bởi TNTP là ca khúc của tổ chức, ông đã mặc nhiên nhường quyền sở hữu ca khúc đó cho Ðế Quốc Việt Nam, và Ðế Quốc Việt Nam (sau này được thừa kế bởi Quốc Gia Việt Nam và VNCH theo luật thừa kế của các thực thể quốc gia) có sở hữu ca khúc “Thanh Niên” từ lúc TNTP dùng ca khúc này, vào khoảng tháng 7 năm 1945, hoặc sớm hơn.
Cho dù sau này tổ chức TNTP giải tán và gia nhập Việt Minh, sự kiện vẫn rõ ràng là ca khúc “Thanh Niên” đã trở thành tiếng nói của Ðế Quốc Việt Nam vào tháng 7 năm 1945, hoặc sớm hơn, trước ngày Việt Minh cướp chính quyền vào tháng 8, 1945. Ngoài ra, cho dù Lưu Hữu Phước không đồng ý để ca khúc “Thanh Niên” là ca khúc chính thức của TNTP (một giả thiết hầu như không thể có được vì ông nằm trong ban lãnh đạo của tổ chức này), ông đã mất quyền sở hữu ca khúc này qua hành động im lặng và không phản đối của ông khi ca khúc đó được dùng rộng rãi khắp nơi, theo một học thuyết pháp lý trình bày sau đây.
b, “Học Thuyết Ngăn Chận” không cho phép Lưu Hữu Phước phản đối việc dùng nhạc của “Thanh Niên” là nhạc quốc ca VNCH:
Không có tài liệu nào cho thấy Lưu Hữu Phước phản đối việc các tổ chức này dùng ca khúc “Sinh Viên” hoặc “Thanh Niên” là ca khúc nghi lễ của tổ chức trong khoảng thời gian các phiên bản được lưu hành và trình diễn công cộng từ năm 1941 đến năm 1949. (Lưu Hữu Phước chỉ mới bắt đầu phản đối từ 1949.) Sự không phản đối, hoặc im lặng, của Lưu Hữu Phước trước biết bao nhiêu việc dùng công khai nhạc của ông, cho thấy ông đã nhường quyền về nhạc ca khúc này cho công chúng. Do đó, Lưu Hữu Phước đã hoàn toàn mất quyền sở hữu về ca khúc “Sinh Viên” trong khoảng năm 1940-1945. Khi một tác phẩm trở thành tác phẩm cho vùng công chúng, theo luật pháp hoặc do hành động của tác giả (rõ rệt hoặc hàm ý), ai cũng có quyền dùng tác phẩm đó mà không cần phải có sự thỏa thuận của tác giả.
Trong luật pháp, một học thuyết căn bản về việc bị mất quyền lợi là “Học Thuyết Ngăn Chận” (Doctrine of Estoppel). Chữ “estoppel” có nghĩa là bị chặn lại. Người Norman dùng từ ngữ Pháp “estoupail” có nghĩa là nút thùng, lọ (bung) hay nút chai (cork) dùng để ngăn chận cái gì không cho ra (Duhaime). Học thuyết này đã có từ thế́ kỷ 15 xuất pháp từ Anh (sđd.), được đặt ra để tránh bất công do lừa đảo hoặc không phù hợp, thống nhất. Tôi không thể đi sâu vào học thuyết này vì những lý thuyết phức tạp về luật pháp, nhưng có thể trình bày các điểm chính.
Một cách vắn tắt, Học Thuyết Ngăn Chận không cho phép một người chối bỏ cái gì đã được thiết lập là sự thật qua hành động của viên chức tư pháp hay lập pháp, hoặc qua ngay chính hành động của người đó, rõ rệt hoặc hiểu ngầm (Wikipedia 2015e). Khi học thuyết này áp dụng cho các vấn đề về tài sản hoặc sở hữu (kể cả tài sản trí tuệ), thường có ba nhánh dựa vào: im lặng (acquiescence), diễn tả (representation), và lời hứa (promise) (McFarlane 2014, 3). Nhánh dựa vào im lặng có lẽ thích hợp nhất trong trường hợp Lưu Hữu Phước vì ta chưa có bằng chứng rõ rệt cho sự diễn tả hoặc lời hứa của ông với các tổ chức liên hệ, nhưng ta có bằng chứng rõ rệt về sự im lặng của ông.
Học Thuyết Ngăn Chận dựa vào im lặng có thể được giải thích như sau. Khi B làm những hành động dựa vào sự tin tưởng lầm lẫn rằng quyền nào đó của A là thuộc về B; và A, biết đến hành động này của B, giữ im lặng và không đòi lại quyền của mình, thì A bị mất quyền đó nếu B chịu thiệt thòi khi phải trả lại A quyền đó (McFarlane 2014, 3).
Đem vào trường hợp của Lưu Hữu Phước, giả sử ông không có ý định cho Tổng hội Sinh Viên Đông Dương dùng ca khúc “Sinh Viên” hoặc tổ chức TNTP dùng ca khúc “Thanh Niên.” (Nếu ông có ý định nhường quyền cho vùng công chúng và để các tổ chức tùy nghi dùng nhạc điệu hoặc ca khúc “Sinh Viên” thì không còn vấn đề bàn cãi nữa.) Tổng hội dùng ca khúc đó dựa vào sự tin tưởng lầm lẫn về quyền của hội là được ông cho phép. Lưu Hữu Phước là thành phần lãnh đạo trong Tổng hội Sinh Viên và TNTP. Do đó đương nhiên ông biết hành động này của hai tổ chức, nhưng ông không phản đối, và giữ im lặng trong suốt những năm từ 1941 (khi Tổng hội Sinh Viên Đông Dương công khai dùng ca khúc “Sinh Viên” là ca khúc nghi lễ của hội), qua năm 1945 (khi tổ chức TNTP dùng ca khúc “Thanh Niên” là ca khúc của tổ chức), qua năm 1948 khi chính phủ Nguyễn Văn Xuân sửa lại lời nhạc và dùng ca khúc “Công Dân” là quốc ca của Quốc Gia Việt Nam. Sự im lặng của ông là bằng chứng cụ thể cho thấy ông đã nhường quyền sở hữu cho Tổng hội và TNTP, và đã tước ông quyền sở hữu của nhạc điệu trong ca khúc “Thanh Niên” ngay từ năm 1941, hoặc ít nhất là năm 1945. Chỉ đến năm 1949, Lưu Hữu Phước mới bắt đầu phản đối việc ca khúc “Công Dân” là quốc ca của Quốc Gia Việt Nam. Lúc bấy giờ, mọi việc đã quá trễ. Các tổ chức này không thể trả lại quyền sở hữu đó cho ông vì họ sẽ bị thiệt thòi do sự đầu tư tài chánh, nhân sự, biểu tượng, tiếng tăm cho bài hát. Do đó, Lưu Hữu Phước đã mất quyền sở hữu bài hát và bị ngăn chận đòi lại quyền đó. và lời phản đối của ông trở nên vô giá trị. Tám năm trời im lặng là một khoảng thời gian quá dài.
Tuy Học Thuyết Ngăn Chận là học thuyết mới, các lý lẽ pháp luật và nguyên tắc công bằng hiện hữu từ hàng trăm năm. Vì không có vụ kiện nào liên hệ đến vấn đề này, ta không rõ tòa sẽ xử thế nào; nhưng điều chắc chắn là nếu có, một tòa án công minh sẽ dùng các nguyên tắc công bằng.
Vì nhạc điệu của “Thanh Niên” của Lưu Hữu Phước đã thuộc về Đế Quốc Việt Nam qua sự im lặng của ông, VNCH có quyền dùng nhạc điệu đó mà không cần sự thỏa thuận của ông. Ngoài ra, quốc gia VNCH có bản quyền trên lời ca “Công Dân” vì lời ca khác hẳn lời ca của “Thanh Niên” đến 85%. Do đó, sự phản đối của Lưu Hữu Phước sau này về nhạc điệu của “Công Dân” hoàn toàn vô giá trị, và lại còn vô giá trị hơn với lời ca.
2. Quốc Gia Việt Nam và VNCH không hề đạo nhạc của Lưu Hữu Phước vì tên ông luôn luôn được ghi nhận rõ rệt:
Một số người cộng sản kết tội một cách ngu xuẩn là chính phủ VNCH ăn cắp nhạc của Lưu Hữu Phước cho bài quốc ca. Những lời kết tội này không những vô căn cứ theo lịch sử nguồn gốc bài hát như trình bày ở trên, mà còn phản ảnh sự kém hiểu biết về ăn cắp văn chương và đạo văn.
Ăn cắp văn học hoặc văn chương (literary theft) là một hành động ăn cắp tác phẩm văn học của người khác. Ăn cắp văn học cũng có thể gọi là đạo văn (plagiarism), mặc dù ăn cắp văn học có thể có một phạm vi rộng hơn so với đạo văn. Trên thực tế, ăn cắp văn học và đạo văn được dùng thay thế lẫn nhau. Đạo văn tránh chữ “ăn cắp” hay “đánh trộm” nhưng nó có cùng nghĩa. “Plagiarism” có gốc từ chữ “plagiarus,” một chữ Latin có nghĩa là “bắt cóc nô lệ” (Pappas 1998, 31). Các hành vi đạo văn tương tự như hành vi bắt cóc, hoặc ăn cắp, công trình người khác. Có nhiều định nghĩa cho đạo văn từ một số nguồn tài liệu (Xem, thí dụ như, Johnson, 1755, trích dẫn trong Mallon 1989, 11; từ điển tiếng Anh Oxford, trích dẫn trong Stearns 1999, 17; Stearns 1999, 7; Wikipedia 2015g). Đại khái, đạo văn là “cố ý lấy tài sản văn học của người khác mà không ghi công và mạo nhận nó là của riêng mình” (Stearns 1999, 7). Điểm chính của đạo văn là “mạo nhận là của chính mình” hay “trình bày như của chính mình,” nghĩa là tạo ấn tượng cho người khác khiến họ tưởng thủ phạm là tác giả.
Đạo văn là một khái niệm đạo đức hay luân lý hơn là một khái niệm pháp luật. Tại Hoa Kỳ, không có luật liên bang chống lại hành vi ăn cắp văn học hoặc đạo văn. Các tổ chức tư nhân hoặc công cộng (thí dụ, cơ quan giáo dục, trường học) có thể đặt ra các quy tắc riêng và biện pháp kỷ luật đối với hành vi đạo văn dưới khuôn kh̀ổ của các tổ chức đó. Ngoài ra, đạo văn và vi phạm bản quyền là hai khái niệm khác nhau. Đạo văn có thể hoặc không thể dẫn đến vi phạm bản quyền, và ngược lại.
Thông thường, đạo văn dính líu chỉ vài đoạn văn, và nhiều khi chỉ vài câu. Một trường hợp đạo văn trở thành toàn diện hay tột độ là khi kẻ đạo văn ăn cắp toàn bộ tác phẩm của người khác và xưng là của mình. Trường hợp này rất hiếm có vì mức độ gian xảo cực độ và rất ít có người nào mặt dầy mặt dạn dám có gan làm những chuyện kinh khủng như vậy. Tuy nhiên, trong lịch sử nhân loại, có một kẻ đã làm chuyện đó. Đó là Hồ Chí Minh. Hồ đạo văn toàn diện ít nhất ba văn bản: “Thỉnh nguyện thư của dân tộc An Nam” (Xem, thí dụ như, Quinn-Judge 2002, 18), “Bản Án Chế độ Thực Dân Pháp” (Xem, thí dụ như, Thụy 2012, 560-562), và “Nhật Ký Trong Tù” (Xem, thí dụ như, Lê 1990). Có thể cái “văn hóa đạo văn” này đã thấm nhuần trong thành phần cộng sản theo gương Hồ, nên nhiều người cộng sản tưởng ai cũng như họ, kết tội chính phủ VNCH đạo nhạc của Lưu Hữu Phước.
Quốc Gia Việt Nam và VNCH không hề mạo nhận tác giả, hoặc tạo ấn tượng cho người khác khiến họ tưởng tác giả quốc ca là người đang phục vụ trong miền Nam. Ngược lại, Quốc Gia Việt Nam ngay từ thời chính phủ Nguyễn Văn Xuân năm 1948 và VNCH luôn luôn ghi rõ tác giả ca khúc “Công Dân” là Lưu Hữu Phước. Việc ghi rõ tên tác giả Lưu Hữu Phước cho thấy Quốc Gia Việt Nam và VNCH không ăn cắp nhạc hoặc đạo nhạc của Lưu Hữu Phước. Không những thế, chính phủ VNCH lúc nào cũng cho Lưu Hữu Phước cái danh dự là tác giả của quốc ca VNCH cho dù ông chỉ là tác giả của nhạc điệu và không phải là tác giả của lời nhạc. Về việc bản quyền, như đã trình bày trên, cho dù Lưu Hữu Phước có bản quyền, ông đã bị mất bản quyền này và nhường quyền lại cho VNCH.
3. Việc dùng nhạc của Lưu Hữu Phước cho quốc ca của VNCH cho thấy tinh thần dân tộc của người miền Nam Việt Nam đối với toàn dân Việt:
Miền Nam không thiếu nhân tài viết nhạc cho quốc ca, như đã được chứng tỏ qua kho tàng nhạc vàng vô giá tại miền Nam trước năm 1975. Chính phủ Nguyễn Văn Xuân, Quốc hội thời Đệ Nhất Cộng Hòa, và chính phủ Đệ Nhị Cộng Hòa không câu nệ sự kiện tác giả nhạc điệu của bài quốc ca là người ở “phe bên kia” mà vẫn tiếp tục dùng nhạc điệu này, vì lúc ông sáng tác bản nhạc, “Lưu Hữu Phước cũng như bao nhiêu thanh niên yêu nước khác đứng lên tranh đấu giành độc lập cho đất nước chứ chưa phải là một đảng viên cộng sản” (trích lời Trần Văn Đôn, trong Hoàng 2002, 2177). Điều đó cho thấy người miền Nam không có sự đố kỵ, hận thù, lòng dạ nhỏ nhen, mà ngược lại còn cho thấy tinh thần dân tộc và thương yêu đồng bào. Tinh thần dân tộc này thể hiện bản chất nhân bản, khai phóng, và yêu thương đồng bào, không phân biệt Nam Bắc, của người miền Nam không cộng sản.
Ngược lại, chắc chắn nhóm cầm quyền cộng sản Bắc Việt không bao giờ dùng nhạc viết bởi nhạc sĩ của Quốc Gia Việt Nam hoặc VNCH, cho dù những bài đó không dính dáng gì đến chính trị hoặc đả kích cộng sản. Lòng dạ nhỏ nhen, bụng tiểu nhân, mặc cảm tự ti, và đầu óc chia rẽ hận thù của nhóm cầm quyền cộng sản Bắc Việt đã được biết rõ khi chúng cấm đoán nhạc miền Nam ngay cả sau khi chúng chiếm đoạt được miền Nam năm 1975.
Ta cũng nên hiểu Lưu Hữu Phước có thể bị nhóm cầm quyền cộng sản Bắc Việt bắt buộc lên tiếng phản đối, vì khó tin một nhạc sĩ, thay vì hãnh diện, lại có thái độ bực bội việc tác phẩm mình được dùng cho một mục đích cao cả là quốc ca của một quốc gia. Ngoài ra, Lưu Hữu Phước lên tiếng phản đối vào năm 1949, khi Ngô Đình Diệm chưa làm Thủ tướng, và Mỹ chưa đặt chân lên miền Nam. Do đó, bảo rằng Lưu Hữu Phước phản đối vì miền Nam phục vụ đế quốc Mỹ là hoàn toàn sai lầm.
C. “Tiếng Gọi Công Dân” có bố cục chặt chẽ, là lời kêu gọi toàn dân đứng lên tranh đấu cho quốc gia thoát khỏi cơn nguy biến.
Quốc kỳ và quốc ca là khí cụ hữu hiệu giúp dân ràng buộc với nhau và là hai biểu tượng quan trọng nhất cho một quốc gia. Vì là biểu tượng quốc gia, quốc kỳ và quốc ca có vai trò thiêng liêng và cao cả trong việc lôi kéo toàn dân vào nhau. Ngoài ra, quốc ca thường được trình bày trong những dịp long trọng hoặc nghiêm trang. Để tạo không khí nghiêm trang và nhấn mạnh tinh thần quốc gia, rất quan trọng là quốc ca có nhạc điệu hùng hồn, tha thiết, dễ hát, và lời ca khơi động lòng yêu nước của toàn dân. Ca khúc “Tiếng Gọi Công Dân” có đầy đủ những tính chất đó ở mức độ cao, và là một bài quốc ca bất hủ.
Kelen (2015, 71) phân loại ra ba loại quốc ca dựa vào nội dung lời ca: (1) bài hát “hành khúc” hoặc thúc giục, thí dụ như “La Marseillaise” (Pháp); (2) hoạt cảnh tự chúc mừng (bức tranh của một quốc gia xứng đáng), như “Advance Australia Fair” (Úc) hoặc “The Star-Spangled Banner” (Hoa Kỳ); và (3) ca khúc cầu nguyện, tha thiết đến thần thánh, như “God Save the King/Queen” (Anh). Có nhiều quốc ca có chút ít mỗi phần, hoặc không thích hợp với các loại này. “Công Dân” có đủ cả ba loại đó. Là bài “hành khúc,” “Công Dân” thúc giục người dân hy sinh cho tổ quốc và hiến thân dưới cờ. Là bài ca ngợi quốc gia xứng đáng, “Công Dân” ca ngợi tiếng tăm người Nam vang khắp nơi và cho đến muôn đời và nòi giống vẻ vang. Là bài tha thiế́t đến thực thể thiêng liêng, “Công Dân” nhắc nhở lịch sử mấy ngàn năm của giòng giống Lạc Hồng.
Một cách độc đáo, tuy lời ca “Tiếng Gọi Công Dân” được viết năm 1956, nội dung có một bố cục chặt chẽ, mạch lạc, và có luận lý, đi theo thể thức một bài phân tích pháp luật. Hầu hết các bài viết phân tích pháp luật, bài thi luật, hoặc bài tóm tắt phân tích các vụ kiện tố tụng đều theo một thể thức nào đó. Các thể thức này đặt ra để giúp bài viết sáng sủa, mạch lạc, và có những chú trọng thích hợp.
Tại Hoa Kỳ, có nhiều thể thức viết cho các bài luận pháp lý, như IRAC, CRRACC (Xem, thí dụ như, CUNY; Wikipedia 2015i). Đại khái, thể thức IRAC (Issue, Rule, Analysis, Conclusion) gồm có bốn phần: Issue (Đặt vấn đề), Rule (Phát biểu luật/ quy tắc), Analysis/ Application (Phân tích/ Áp dụng/ Diễn giải), và Conclusion (Kết luận). Sau đây là một thí dụ một bài viết về một vấn đề pháp luật theo thể thức IRAC (đây chỉ là một thí dụ đơn giản và không phải là một bài viết phản ảnh thực tế):
1) Đặt vấn đề: Vấn đề đặt ra là Nguyễn Văn X có phạm tội giết người không?
2) Phát biểu luật/ quy tắc: Theo luật hình sự California, luật 187(a), hình luật giết người là giết bất hợp pháp một người hay một bào thai với chủ ý phạm tội.
3) Phân tích/ Áp dụng/ Diễn giải: Nguyễn Văn X. mang dao giấu trong người và ngồi chờ nạn nhân đến quán ăn. Theo vụ California v. Trần Z., khi một người giấu vũ khí trong người và ngồi chờ, người đó có chủ tâm phạm tội. Ở đây, X. gói con dao trong bao ny lông, và nhét trong bụng, rõ ràng giấu giếm vũ khí. X. ngồi trong quán không ăn gì mà chỉ uống đá lạnh trong nửa tiếng, cho thấy X. chờ đợi nạn nhân. Do đó, X có ý định giết người với chủ ý phạm tội. Khi nạn nhân đến quán ăn, X bước tới bàn nạn nhân và móc dao ra chém nạn nhân liên tiếp cả chục nhát vào mặt, cổ, ngực, và bụng. Nạn nhân ngã xuống đất và chết ngay tại chỗ. Hành động của X giết chết nạn nhân một cách bất hợp pháp. Bào chữa cho X. có thể dựa vào lý thuyết cơn điên mãnh liệt vì nạn nhân là người tình của vợ X. Tuy nhiên, dựa vào vụ California v. John Smith, bào chữa này không có căn bản vì X. thiếu ít nhất hai yếu tố: bị thách thức đột nhiên và hành động nhất thời trong một giây phút nóng gíận quá độ.
4) Kết luận: Nguyễn Văn X. phạm tội giết người dựa vào hình luật 187(a).
Bài “Công Dân” có bố cục theo đúng thể thức IRAC ở trên như sau:
1) Đặt vấn đề: Người dân phải làm gì khi “quốc gia đến ngày gỉải phóng”?
2) Phát biểu luật/ quy tắc: Nhiệm vụ của người dân là bảo vệ “tương lai quốc dân” và “núi sông từ nay luôn vững bền.”
3) Phân tích/ Áp dụng/ Diễn giải: Người dân phải biết hy sinh “dù cho thây phơi trên gươm giáo,” và phải “lấy máu đào đem báo” cho “thù nước.” Ngoài ra, người dân phải biết “giải nguy” cho đất nước “lúc biến,” “vững bền tâm trí” và “hùng tráng quyết chiến đấu” để “tiếng người nước Nam” vang “khắp nơi” “cho đến muôn đời.”
4) Kết luận: Hỡi dân chúng, hãy “mau hiến thân dưới cờ” và “mau làm cho cõi bờ thoát cơn tàn phá,” cho “vẻ vang nòi giống” và “xứng danh nghìn năm giòng giống Lạc Hồng!”
Với bố cục chặt chẽ đó, ý tưởng trong “Công Dân” trôi chảy mạch lạc và rất dễ hiểu.
Bài hát mở đầu với lời xác định vấn đề nghiêm trọng của quốc gia khi đất nước đã đến thời kỳ thoát ly ra khỏi những gông cùm của nô lệ và tăm tối (“Này công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng”). Câu hỏi ngầm là người dân phải làm gì khi quốc gia đến ngày giải phóng. Câu trả lời nhanh là mọi công dân hãy cùng ra đi dấn thân và hy sinh cho quê hương (“Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống”).
Ngày phần mở đầu, câu “Này công dân ơi!” tương phản rõ rệt với câu “Đoàn quân Việt Nam đi” trong ca khúc “Tiến Quân Ca” của nhạc sĩ Văn Cao, và là quốc ca của cộng sản Bắc Việt và sau này gán đặt lên Việt Nam (Wikipedia 2015f). Trong khi “Này công dân ơi!” là lời kêu gọi êm ái tới đồng bào dân chúng cùng đứng lên bảo vệ non sông, câu “Đoàn quân Việt Nam đi” vẽ ra hình ảnh binh lính đi bắn giết quân thù nơi sa trường dưới lá cờ hình máu của chiến thắng. Chỉ với câu mở đầu này, ta thấy “Công Dân” xứng đáng là quốc ca của Việt Nam hơn “Tiến Quân Ca” vì “Công Dân” kêu gọi toàn dân, chứ không phải quân đội.
Ta phải hiểu “đến ngày” trong câu “Quốc gia đến ngày giải phóng” không có nghĩa là ngày đó đã được định trước mà có nghĩa là đã đến lúc giải thoát quốc gia ra khỏi tù túng. Cho dù tù túng, gông cùm, hay tăm tối, tình trạng đã chín mùi cho cuộc nổi dậy. Một cách tiên tri, câu “Quốc gia đến ngày giải phóng” nói lên thực trạng của Việt Nam hiện nay khi nhóm cầm quyền cộng sản đem chủ thuyết ngoại bang là gông cùm đặt lên đầu lên cổ người dân.
Có phiên bản dùng “Đứng lên đáp lời sông núi” thay vì “Quốc gia đến ngày giải phóng.” Đây là sự sai lầm vô tình hay cố ý (có thể vì dị ứng với từ ngữ “giải phóng”). Câu “Ðứng lên đáp lời sông núi” là câu trong “Sinh Viên” và không phải trong “Công Dân.” Việc đó rất rõ ràng vì câu kế tiếp “.. thân sống” không vần với “sông núi” mà vần với “giải phóng.” Sai vần thực sự không quan trọng. Cái sai lầm kế là cách dùng cú pháp lệch lạc. Như sẽ trình bày sau, chữ “này” trong tiếng Việt rất tinh tế. Khi bạn nói với ai với chữ mở đầu “Này …” (thí dụ, “Này anh ơi,”), bạn không có ý định thúc giục hoặc kêu gọi người đó làm chuyện gì. Chữ “này” mở đầu một câu nói chuẩn bị cho lời giảng giải, cắt nghĩa, phân trần, nhắn nhủ, hoặc biểu lộ cảm nghĩ, tình trạng nào đó. Thí dụ, “Này anh ơi, bây giờ kinh tế khó khăn,…” Bạn không dùng “này” để thúc giục hoặc kêu gọi. Câu “đứng lên đáp lời sông núi” là một lời thúc giục, kêu gọi, và do đó không thể đặt sau câu “Này công dân ơi!” Quan trọng hơn, câu “Quốc gia đến ngày giải phóng” đóng vai trò một câu đặt vấn đề như trình bày ở trên. Nếu không có câu này, ta sẽ không hiểu vấn đề ở đâu mà ra, tại sao phải “đứng lên đáp lời sông núi” hoặc “hy sinh tiếc gì thân sống,” v.v… Quan trọng nhất, ta không nên sửa đổi lời bài quốc ca đã được dùng trong suốt hai mươi năm của VNCH trước 1975, vì đó là một văn bản có giá trị lịch sử và quốc gia.
Vào năm 1960, cộng sản Bắc Việt tạo ra “Mặt trận giải phóng miền Nam” (MTGPMN) với mục đích xâm lăng miền Nam theo lệnh Tàu cộng, khiế́n “giải phóng” có ý nghĩa tang tóc, chém giết, cướp bức, đàn áp, và mang theo tính chất dã man, vô nhân đạo, và ngu xuẩn. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, cộng sản chiếm đóng miền Nam dưới chiêu bài “giải phóng” và sau đó lại còn đem ý nghĩa đau thương, tang tóc, hận thù cho chữ “giải phóng.” Tuy nhiên, ta không nên dị ứng với chữ “giải phóng” vì “giải phóng” có ý nghĩa cao cả vào lúc lời nhạc được ghi. (Xin các vị Chống-Chống Cộng đừng hăm hở nhào vô và kết tội tôi là cổ võ dùng từ ngữ cộng sản.) Lời nhạc cho ca khúc “Công Dân” được viết vào năm 1956, bốn năm trước khi MTGPMN được thành lập. Do đó ý nghĩa “giải phóng” phải được suy diễn trong tình huống thời cục lúc ấy. Bấy giờ, miền Nam Việt Nam là một quốc gia hoàn toàn độc lập và có chủ quyền trên khắp lãnh thổ miển Nam. Do đó, “giải phóng” không thể có ý nghĩa hạn hẹp là giành độc lập hoặc thoát khỏi cai trị của ngoại bang. “Giải phóng” theo ý nghĩa lúc lời nhạc “Công Dân” được viết lại vào năm 1956 hàm ý giải thoát khỏi gông cùm của bất cứ gì cản trở sự tiến hoá của con người trong hiện tại và tương lai, kể cả bảo thủ, độc tài, lệ thuộc ngoại bang, nô lệ, tăm tối, hoặc ngu si. Ta không nên “tẩy chay” từ ngữ “giải phóng” chỉ vì cộng sản lạm dụng và cho nó một ý nghĩa xấu xa. Nhóm cầm quyền cộng sản đã thao túng và làm suy đồi nền văn hóa Việt Nam qua sự ngu dốt, lạm dụng, và đã khiến một số từ ngữ bị “tai tiếng.” Nhưng ta không thể để cộng sản giết chết những từ ngữ này.
Trở về bài hát, lời nhắn nhủ công dân tiếp tục. Cuộc hy sinh là vì tương lai của toàn dân nên mọi người hãy cùng nhau xông pha nơi lằn tên mũi đạn để giữ gìn non sông được bền vững (“Vì tương lai quốc dân, cùng xông pha khói tên/ Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền”). Câu “núi sông từ nay luôn vững bền” cho thấy ý chí bảo tồn lãnh thổ toàn vẹn. Theo đúng ý chí đó, quân lực VNCH (QLVNCH) đã luôn luôn tích cực chống trả mãnh liệt mưu đồ xâm lấn của ngoại bang. Cuộc chiến giữa QLVNCH và Tàu cộng tại Hoàng Sa năm 1974 cho thấy ý chí can trường đó.
Cho dù phải chết phơi thây trên gươm giáo nhưng vì thù nước, người dân phải lấy máu đổi máu, báo thù bằng chính máu đỏ của mình (“Dù cho thây phơi trên gươm giáo/ Thù nước, lấy máu đào đem báo”). Câu “Dù cho thây phơi trên gươm giáo” tương phản rõ rệt với câu “Đường vinh quang xây xác quân thù” trong bài “Tiến Quân Ca,” quốc ca của cộng sản Bắc Việt và sau này gán đặt lên Việt Nam. Trong khi VNCH kêu gọi toàn dân hy sinh cho tổ quốc, cho dù phải hy sinh tánh mạng như cha ông tổ tiên đã làm, nhóm cầm quyền cộng sản chỉ kêu gọi binh lính họ chém giết quân thù, một hình ảnh khát máu khác hẳn với bản chất hiền hòa và ý chí hy sinh của dân Việt.
Câu “Thù nước, lấy máu đào đem báo” là một câu độc đáo.
Thế nào là “thù nước”?
“Thù nước” nhấn mạnh mối thù quốc gia, chứ không phải là mối thù cá nhân, như phe địch giết thân nhân mình. Đó là mối thù hại đến tổ quốc. Lúc bấy giờ, vào năm 1956, cộng sản Bắc Việt còn đang lo kinh tế ngoài Bắc nên chưa tăng cường xâm lấn mìền Nam. Cộng sản vẫn có trong miền Nam, khoảng chục ngàn cán bộ, nhưng hiểm họa cộng sản hoặc ngoại xâm không nặng nề lắm. Vậy tại sao “thù nước”?
Trong một giải thích, tác giả (nhân viên Đài phát thanh Sài Gòn) không có ý tưởng rõ rệt ai là kẻ thù của đất nước lúc bấy giờ, mà chỉ là lời kêu gọi tổng quát cho toàn dân báo thù cho bất cứ kẻ thù quốc gia nào, kể cả những kẻ trong nước cướp nước dâng cho ngoại bang hoặc quân xâm lăng ngoại bang. Tuy nhiên, giải thích đó không thỏa đáng vì “thù nước” và “máu đào đem báo” hàm ý một mối thù rõ rệt. Do đó, dưới một giải thích khác,”thù nước” là mối thù cộng sản Việt Minh lừa đảo dân, cướp chính quyền của quốc gia Việt Nam vào tháng 8 năm 1945, đặt gông cùm cộng sản tàn ác lên dân Việt, và cúi đầu làm nô lệ cho Tàu cộng và Liên Xô. Hành động phi pháp, cuộc thảm sát hơn 170.000 dân trong chiến dịch cải cách ruộng đất theo lệnh quan thầy Tàu cộng của họ, và phí phạm hàng vạn binh lính trong các trận chống Pháp nhất là trận Điện Biên Phủ, quả là một mối thù quốc gia. Người miền Nam, lúc nào cũng coi người dân miền Bắc không cộng sản là anh em, coi việc cộng sản đặt gông cùm lên đồng bào mình ngoài Bắc là mối thù quốc gia.
Một cách tiên tri, ý nghĩa của “thù nước” lại càng nổi bật rõ khi cộng sản Bắc Việt xâm lăng và chiếm đóng miền Nam Việt Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Từ đó, ngày 30 tháng 4 thường được gọi là ngày “quốc hận” để cho thấy mối thù nhóm cầm quyền cộng sản nghe lệnh quan thầy Tàu cộng, xé bỏ hiệp định, và xâm lăng miền Nam, dẫn đến cảnh hàng triệu người bỏ xứ định cư trên các nước tự do, và hàng trăm ngàn người bỏ mạng khi vượt biên hoặc bị hành quyết trong các trại tù cải tạo. Mối thù nước này lại càng được nung nấu trong suốt 40 năm qua khi nhóm cầm quyền cộng sản lôi kéo đất nước oai hùng ngày nào xuống bờ vực của ươn hèn và lụn bại, hủy hoại tài nguyên và của cải đất nước qua hành động bán nước và tệ trạng tham nhũng, tiêu diệt những tinh hoa đất nước qua những tuyên truyền và lừa đảo khiến các thế hệ trẻ bị chôn vùi trong ngục tù tăm tối, và phạm biết bao nhiêu tội ác với nhân dân và tổ quốc. Với ý nghĩa “thù nước” này, “Công Dân” nên được coi là quốc ca của nước Việt Nam hiện nay hoặc ít nhất là bài ca đại diện các phong trào đấu tranh giành tự do dân chủ cho Việt Nam.
Người dân Việt thuộc nòi giống Tiên Rồng phải biết giải tỏa nguy hiểm khi có cơn nguy biến xảy ra cho đất nước; và người dân lúc nào cũng phải vững tâm bền chí (“Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy/ Người công dân luôn vững bền tâm trí”). Người dân phải quyết chiến đấu hùng tráng chống lại quân thù để tiếng tăm dân Việt được vang vang khắp nơi trên thế giới cho đến ngàn năm (“Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi/ Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời!”). Lời kêu gọi cho tiếng tăm nước Việt Nam vẻ vang khắp nơi trên thế giới và cả ngàn năm cho thấy tinh thần quốc gia độc lập cao độ, không chịu lệ thuộc ngoại bang.
Phiên khúc chót là lời kêu gọi tha thiết đến toàn dân. Hỡi người dân Việt, hãy nguyện hy sinh cho tổ quốc. Hãy cố gắng chiến đấu để đất nước thoát cơn tàn phá vì kẻ thù, và để vẻ vang xứng danh ngàn năm là con cháu Lạc Hồng (“Công dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ!/ Công dân ơi! Mau làm cho cõi bờ/ Thoát cơn tàn phá, vẻ vang nòi giống/ Xứng danh nghìn năm giòng giống Lạc Hồng!”). Lời kêu gọi này là câu trả lời cho câu hỏi ngầm người dân nên làm gì khi quốc gia đến ngày giải phóng đặt ra trong phần đầu.
Nội dung toàn bài kêu gọi lòng yêu nước của toàn dân đứng lên bảo vệ non sông trong cơn nguy biến. Với lời kêu gọi hùng hồn tha thiết và đầy ý nghĩa, “Công Dân” nên được dùng là ca khúc cho các phong trào đấu tranh tự do dân chủ tại Việt Nam. Ngoài ra, như đã trình bày ở trên, “Công Dân” nên là quốc ca của nước Việt Nam khi chế độ cộng sản không còn hiện hữu.
D. “Tiếng Gọi Công Dân” có giai điệu trầm bổng hùng tráng, tiết tấu dồn dập, và lời ca phù hợp, cách diễn tả hữu hiệu kêu gọi lòng ái quốc và hy sinh cho tổ quốc
Kelen (2015, 107) cho rằng một nghịch lý của quốc ca là người hát và người nghe thường quên ý nghĩa lời ca. “Chúng ta quên chúng ta đang hát gì; chúng ta quên ý nghĩa của các chữ” (sđd.) Cái tác dụng mạnh mẽ được tạo ra tự động (sđd., 108) vì người ta tham gia trong một tình trạng biểu tượng chặt chẽ, thí dụ một nghi lễ tưởng niệm hoặc một hoạt động thể thao quốc gia. Tôi không đồng ý hoàn toàn với ý tưởng này, nhất là với “Công Dân.” Một trong những lý do “Công Dân” là bài quốc ca bất hủ là lời ca rất đáng nhớ và gây tác dụng mạnh mẽ. Ít ai có thể quên được những từ ngữ mạnh như “giải phóng,” “thây phơi,” “thù nước,” “máu đào,” “hiến thân dưới cờ” và ý nghĩa của những chữ này. Ngoài ra, các khía cạnh âm nhạc của “Công Dân” cũng đóng góp rất nhiều trong việc tạo tác dụng lớn lao trên khán giả.
1. Bài hát có giai điệu trầm bổng hào hùng và thánh thót, tiết tấu thay đổi, giúp bài hát dễ hát và gây cảm xúc mạnh trên khán giả:
Một trong những đặc tính quan trọng cho quốc ca là bài hát phải dễ hát để ai cũng có thể hát được. Quốc ca là bài hát cho toàn dân và không phải là bài hát cho ca sĩ. Bản “Star-Spangled Banner,” quốc ca của Hoa Kỳ, có tiếng là khó hát, ngay cả cho ca sĩ chuyên nghiệp vì không ngân nổi nốt nhạc cao hoặc quên lời nhạc (Wikipedia 2015d). Nhiều người nói bài “Star-Spangled Banner” khó hát vì âm vực (khoảng cách giữa nốt thấp nhất và nốt cao nhất trong bài) vượt quá mức của giọng người thường, khoảng một quãng tám rưỡi (an octave and a half) (Xem, thí dụ như, Klein 2013; Macko 2014). Tuy nhiên, âm vực một quãng tám rưỡi không đến nỗi khó lắm. Lý do chính khiến người hát vấp ngã là giai điệu thay đổi lung tung, nhảy lên nhảy xuống quá nhanh, như một “con cá giẫy đành đạch trong thuyền chèo” (Klein 2013). Thí dụ, đoạn khó nhất (“were so gallantly streaming? And the rockets’ red glare”) có giai điệu thay đổi quá nhanh, từ nốt thấp nhất (“-ing” trong “streaming”) tới nốt cao nhất (“red”), một quãng tám (octave) rưỡi, trong vòng khoảng bốn nốt đen với năm âm tiết (syllable). Người hát với giọng thường khó mà thay đổi cao độ nhanh như vậy. Đoạn khó thứ nhì xảy ra ở đoạn cuối (“the land of the free and the home of the brave”), khi mà người hát đã mệt nhoài vì hết hơi nên không thể lên cao được ở chữ “free” (Klein 2013). Như sẽ được trình bày sau, “Công Dân” có cùng âm vực khoảng một quãng tám rưỡi, nhưng cách sắp đặt giai điệu không tạo ra những khó khăn cho người hát như bài “Star-Spangled Banner.”
Một khái niệm quan trọng trong giai điệu là chuyển động (movement, motion). Chuyển động là sự tiến triển của các nốt nhạc đi với nhau. Có hai loại chuyển động: liên kết (conjunct) và khác biệt (disjunct). Trong chuyển động liên kết, giai điệu tiến triển từ một nốt sang nốt kế tiếp từng nấc một (stepwise), tạo nên một nét nhẹ nhàng uyển chuyển. Loại giai điệu này thường thích hợp cho cách diễn tả tình cảm hoặc tả cảnh êm ả. Trong chuyển động khác biệt, giai điệu tiến triển từ một nốt sang nốt kế tiếp qua bước nhảy (leaps), tạo nên vẻ mạnh mẽ và “góc cạnh” (Mitchell).
“Công Dân” có giai điệu phối hợp giữa chuyển động liên kết và chuyển động khác biệt, giúp âm thanh có sắc thái trầm bổng hào hùng và thánh thót. Âm điệu vì thế trở nên linh động và lôi cuốn, rất thích hợp cho việc kêu gọi người dân hy sinh cho tổ quốc. Chuyển động liên kết xảy ra trong câu và chuyển động khác biệt xảy ra giữa một câu và câu kế tiếp. Thí dụ hai câu “Này Công Dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng” và “Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống” có tiến triển lên xuống chậm chạp trong mỗi câu, nhưng có tiến triển đột ngột giữa hai câu (từ “phóng” trong câu đầu tới “Đồng” trong câu kế), nghe như hai lớp sóng vỗ lên nhau. Đặc biệt, từ câu “từ nay luôn vững bền” tới câu “Dù cho phơi thây trên gươm giáo” có chuyển động khác biệt và dấu lặng, giúp cho hòa âm được dễ dàng khi thay đổi hoặc nhấn mạnh một nhạc cụ khác.
Tiết tấu thay đổi, lúc thì nhanh dồn dập, lúc thì kéo dài tha thiết, thích hợp cho lời kêu gọi toàn dân. Những nốt kéo dài cuối câu giúp cho khúc đoạn có xác định rõ rệt, làm dễ dàng cho việc chuyển nhạc cụ trong hòa âm đem lại nhịp điệu thay đổi và kích động. Thí dụ, hai câu đầu có khí thế mạnh bạo dồn dập, nhưng chuyển tiếp giữa “tiếc gì thân sống” và “Vì tương lai quốc dân” đem lại một sắc thái trầm hùng thống thiết. Tất cả những chuyển động liên kết và khác biệt này theo một cấu trúc khá cố định khiến các câu ca vang lên như những đợt sóng nối tiếp nhau trên một con sông lớn cuồn cuộn chảy hoặc sóng vỗ lên đá trên bờ biển, để tạo nên một khí thế mạnh dần dẫn đến phiên khúc chót.
Phiên khúc chót là phiên khúc độc đáo nhất và là cực điểm của bài hát. Phiên khúc này bắt đầu bằng câu “Công Dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ!” có các nốt cao dẫn đến nốt cao nhất vào chữ “dưới” được kéo dài để nhấn mạnh và tạo âm hưởng. Đoạn này khởi đầu sau một đoạn được chấm dứt bằng nốt nhạc thấp nhất của bài và một dấu lặng đơn (“Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời”), tạo nên một chuyển động khác biệt, dứt khoát để chuẩn bị cho lời kêu gọi hoành tráng với âm thanh vang vang cho các câu kế tiếp (“Công Dân ơi! Mau làm cho cõi bờ/ Thoát cơn tàn phá, vẻ vang nòi giống”) dẫn đến câu kết khởi đầu bằng nốt cao nhất và xuống chậm dần cho đến kết thúc toàn bài (“Xứng danh nghìn năm giòng giống Lạc Hồng!”).
Khác với bài “Star-Spangled Banner” của Hoa Kỳ, đoạn giữa nốt thấp nhất và nốt cao nhất được ngắt quãng bởi dấu lặng đơn, giúp người hát có dịp nghỉ “lấy hơi.” Ngoài ra, đoạn này được kéo dài qua nhiều nốt với bảy âm tiết (“Công Dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ!“) giúp người hát có thì giờ chuẩn bị để lên cao giọng ở âm tiế́t “dưới” và kéo dài xuống âm tiết “cờ” sau đó. Với cách dùng dấu lặng và câu có nhiều âm tiết, tác giả giữ được sắc thái “góc cạnh” của giai điệu lên cao mà không tạo ra khó khăn cho người hát. “Tiếng Gọi Công Dân” do đó rất dễ hát, không đòi hỏi người hát phải có giọng bao trùm âm vực lớn, và cũng không đòi hỏi người hát phải luyện tập kỹ càng trước khi hát.

Để hiểu và cảm nhận giai điệu trầm bổng, phối hợp chuyển động liên kết và khác biệt, tiết tấu thay đổi giữa dồn dập mạnh mẽ và nhẹ nhàng uyển chuyển, ta hãy nghe phần trình bày nhạc hòa âm của dàn nhạc Ukraine, Ukrainia National Presidential Orchestra, tại Kiev vào ngày 16 tháng 8 năm 2012, do sự hòa âm và phối khí của nhạc sĩ Lê Văn Khoa (Buis 2012). Theo lời nhạc sĩ Lê Văn Khoa, phần trình diễn này của dàn nhạc Ukrainia National Presidential Orchestra là một trình diễn quốc ca VNCH xuất sắc nhất trong tất cả các trình diễn mà ông biết.

2. Lời ca phù hợp với nhạc điệu, có lối diễn tả có tính chất dân tộc, và cách dùng chữ hữu hiệu cho một bài kêu gọi toàn dân đấu tranh vì tổ quốc:
Tác giả lời nhạc của “Công Dân,” nhân viên Đài phát thanh Sài Gòn, chỉ giữ lại vài từ ngữ trong phiên bản “Thanh Niên” và hầu như viết lại toàn bộ lời nhạc cho thích hợp là quốc ca của chính thể VNCH. Vì được viết cho một quốc ca, lời nhạc đượm màu sắc dân tộc và quốc gia. Tác giả lời ca biết cách phối hợp các kỹ thuật diễn tả và dùng chữ hữu hiệu, gây cảm xúc mạnh trên khán giả.
Ngay trong nhan đề và rải rác khắp bài, chữ “công dân” rất thích hợp cho lời kêu gọi toàn dân, và cũng tiện lợi vì là thanh không dấu, thuận với âm điệu của nhạc, thay thế thẳng cho “thanh niên” hoặc “sinh viên” cũng là các thanh không dấu.
Câu “Này công dân ơi!” chất chứa niềm thương yêu cho đồng bào. Như đã trình bày ở trên, câu này đi theo giai điệu có chuyển động liên kết, tạo nên nét nhẹ nhàng êm ả, thích hợp cho lời nhắn nhủ tâm tình, hoặc giải bày tâm sự. Chữ “ơi” (và các chữ khác như “à”) là một chữ độc đáo trong tiếng Việt, hầu như không thể dịch được sang ngoại ngữ. Khi dùng với “anh,” “em, “mình,” v.v., chữ “ơi/à” bộc lộ một tình cảm nhẹ nhàng, kín đáo, và thương yêu cố hữu của người Việt. Khi dùng với các danh từ hoặc đại từ khác, chữ “ơi/à” có ý nghĩa tương tự tuy với chút giảm thiểu về tình cảm. Chữ “này” là một chữ chứa đựng niềm thân thiện, và cũng là một chữ độc đáo trong tiếng Việt khi dùng như thán từ. “Này” và “ơi,” do đó nói lên lời nhắn nhủ chứa đựng tinh thần dân tộc, đồng bào, có tình thương yêu, và như là lời của người dân nói với người dân, trong lúc giải bày tâm sự, phân trần, hoặc biểu lộ cảm nghĩ cho một tình trạng nào đó.
Trong khi “Này công dân ơi!” ở phiên khúc đầu nghe như lời nhắn nhủ tâm tình, câu “Công dân ơi!” ở phiên khúc chót là lời kêu gọi, thúc giục người dân thi hành nghĩa vụ công dân của mình bảo vệ non sông. Như đã trình bày ở trên, lời kêu gọi này đi theo nhạc điệu hùng tráng, với giai điệu bay bổng lên cao, tạo nên khí thế mãnh liệt và kích động tâm thần khán giả. Lời ca và nhạc điệu (giai điệu, tiết tấu) do đó rất phù hợp nhau, tạo nên tác dụng mạnh vào cảm xúc khán giả.
Tác gỉả dùng chữ rất hữu hiệu. Những hình ảnh cụ thể được “cho thấy” bên cạnh những lời “kể” làm nổi bật ý tưởng và có tác dụng mạnh trên khán giả. Thí dụ, “xông pha khói tên,” “thây phơi trên gươm giáo,” “lấy máu đào,” “hiến thân dưới cờ.” Những nhóm chữ này vẽ lên hình ảnh linh động, cụ thể, và gợi ý mạnh mẽ. Câu “hiến thân dưới cờ” có nét độc đáo vì ngoài tác dụng cho thấy hình ảnh cụ thể, nó còn là một ẩn dụ tuyệt vời cho lòng miệt mài tận tụy dâng hiến cuộc đời (“hiến thân”) cho tổ quốc (“dưới cờ”). Hình ảnh lá cờ tượng trưng cho tổ quốc là một hình ảnh thiêng liêng cao quý, và hành động “hiến thân dưới cờ” nói lên lòng yêu nước vô bờ bến của người dân Việt Nam.
Tác giả duy trì vần điệu cho lời ca trôi chảy, dễ nhớ. Một cách đặc sắc, tác giả tận dụng thanh vận cho cách gieo vần: dùng vần trắc cho lời lẽ mạnh bạo (“giải phóng/ thân sống,” “gươm giáo/ đem báo“) và vần bằng cho lời lẽ nhẹ nhàng gợi tình cảm (“khói tên/ vững bền,” “khắp nơi/ muôn đời,” “dưới cờ/ cõi bờ“).
Tóm lại, lời ca trong “Công Dân” phù hợp với nhạc điệu, có lối dùng chữ hữu hiệu, mang nét dân tộc, gây tác dụng mạnh mẽ trên khán giả. Người nghe hoặc người hát khó quên ý nghĩa của từ ngữ vì chính những từ ngữ này tạo cảm xúc mạnh cho chính họ.
E. Kết Luận:
Ca khúc “Tiếng Gọi Công Dân” kêu gọi toàn dân Việt Nam đứng lên đấu tranh và hy sinh cho tổ quốc để gìn giữ bờ cõi. Đây không phải chỉ là một bài quốc ca của VNCH mà nên được coi là bài quốc ca của toàn thể nước Việt Nam. Toàn dân Việt Nam, từ Nam ra Bắc, nên hãnh diện vì bài quốc ca hùng hồn, đầy màu sắc dân tộc, và tha thiết kêu gọi toàn dân hy sinh cho tổ quốc. Lịch sử nguồn gốc ca khúc này cho thấy nước VNCH có toàn quyền sở hữu bản nhạc, và nói lên tinh thần đồng bào dân tộc của người miền Nam Việt Nam không tị hiềm việc tác gỉả điệu nhạc sau đó trở thành một đảng viên cộng sản.
Với giai điệu trầm bổng có các chuyển động thích hợp, tiết tấu thay đổi, và lời ca có bố cục chặt chẽ, phù hợp với điệu nhạc, và diễn tả hữu hiệu lời kêu gọi toàn dân trong tinh thần yêu nước thương nòi, “Tiếng Gọi Công Dân” là một bản quốc ca bất hủ. Ca khúc “Tiếng Gọi Công Dân” là biểu tượng độc đáo của toàn dân và quốc gia Việt Nam, và nên được tôn trọng và duy trì mãi mãi trong và ngoài nước Việt Nam.
Lá cờ vàng ba sọc đỏ đã phất phới bay cao trên nóc nhà Nguyễn Viết Dũng tại Nghệ An. Chẳng bao lâu, ca khúc “Tiếng Gọi Công Dân” sẽ được hát vang vang tại Sài Gòn, Hà Nội, Huế, hoặc một thành phố đông dân nào đó tại Việt Nam.
CẢM TẠ
Tôi xin có lời cám ơn các bạn trên trang mạng Dân Làm Báo đã có lời khích lệ trong các bài về âm nhạc trước và giúp tôi có ý định viết bài này, đặc biệt là lời yêu cầu của bạn Babui.
15/05/2015
______________________________________
Tài Liệu Tham Khảo:
1. Bạch Diện Thư Sinh. 2014. Tại sao Quốc Ca VNCH lại là một bài hát của một Đảng viên CS? 26-1-2014.
2. Ban Kỹ Thuật Khóa 10A. 2009. Chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa. 14-2-2009.
3. Biển Nhớ. Không rõ ngày. Bài Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa Ra Đời Như Thế Nào? Không rõ ngày.
4. Buis, Francois. 2012. The National Anthem of the Republic of Vietnam. 30-12-2012.
5. Buttinger, Joseph. 1967. Vietnam: A Dragon Embattled. Volume I – From Colonialism to the Vietminh. Frederick A. Praeger, New York, U.S.A.
6. Cao-Đắc, Tuấn. 2014. Những lừa đảo lịch sử của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam. 2-10-2014. http://danlambaovn.blogspot.com/2014/10/nhung-lua-ao-lich-su-cua-ho-chi-minh-va.html (truy cập 2-5-2015).
7. ConHoiThoConDauTranh. 2011. Tiếng Gọi Thanh Niên. 2-3-2011.
8. CUNY School of Law. Không rõ ngày. IRAC/CRRACC Format. Không rõ ngày.
9. Hoàng Cơ Thụy. 2002. Việt Sử Khảo Luận Cuốn 4, từ Đế quốc Việt Nam đến trận Điện Biên Phủ (3-1945 / 7-5-1954). Nam Á (Sudasie). Paris, France.
10. Kelen, Christopher (Kit). 2015. Anthem Quality – National Songs – A theoretical survey. Intellect, Bristol, U.K.
11. Klein, Randy. 2013. The Star Spangled Banner Is Not A Song, or Is It? 3-7-2013.
12. Lê Hữu Mục.1990. Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục Trung Nhật Ký. Văn-Bút Việt-Nam Hải Ngoại.
13. Macko, Kathryn Mary. 2014. Why is the national anthem so hard to sing? 14-5-2014. http://americanhistory.si.edu/blog/2014/05/why-is-the-national-anthem-so-hard-to-sing.html (truy cập 9-5-2015).
14. Mallon, Thomas. 1989. Stolen Words. Updated with a new afterword about the Internet. Hartcourt, Inc., Florida, U.S.A.
15. Marr, David G. 1995. Vietnam 1945 – The Quest for Power. University of California Press, Berkeley and Los Angeles, California, U.S.A.
16. McFarlane, Ben. 2014. The Law of Proprietary Estoppel. Oxford University Press, Oxford, United Kingdom.
17. Mitchell, Danlee. Không rõ ngày. Elements of Music – Part 3 and Part 4. Không rõ ngày. http://trumpet.sdsu.edu/M345/Elements_of_Music3.html và
18. Nguyễn Ngọc Huy. Không rõ ngày. Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam. Không rõ ngày.
19. Nguyễn Lưu Viên. Không rõ ngày. Những kỷ niệm với Bài Quốc Ca của VNCH. Không rõ ngày.
20. Pappas, Theodore. 1998. Plagiarism and the Culture War: The Writings of Martin Luther King, Jr., and Other Prominent Americans. Revised and expanded edition. Hallberg Publishing Corporation, Florida, U.S.A.
21. Quinn-Judge, Sophie. 2002. Ho Chi Minh: the Missing Years, 1919 – 1941. University of California Press, California, U.S.A.
22. Stearns, Laurie. 1999. Copy Wrong: Plagiarism, Process, Property, and the Law, in “Perspectives on Plagiarism and Intellectual Property in a Postmodern World,” Lise Buranen and Alice M. Roy (Eds.), 5-17. State University of New York Press, New York, U.S.A.
23. Thụy Khuê. 2012. Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc (Nhân Văn Giai Phẩm and the issue of Nguyễn Ái Quốc). Tiếng Quê Hương, Virginia, U.S.A.
24. Trần Trọng Kim. 1969. Một Cơn Gió Bụi. Vĩnh Sơn. Sài gòn. Việt Nam.
25. Vu Ngu Chieu. 1986. The other side of the 1945Vietnamese Revolution: The Empire of Vietnam (March – August 1945). Journal of Asian Studies XLV, No. 2 (Feb. 1986), 293-328.
26. Wikipedia. 2015a. Quốc gia Việt Nam. 16-3-2015.
27. _________. 2015b. Thanh Niên Hành Khúc. Thay đổi chót: 9-4-2015.
28. _________. 2015c. Thanh niên Tiền phong. Thay đổi chót: 1-3-2015.
29. _________. 2015d. The Star-Spangled Banner. Thay đổi chót: 28-4-2015.
30. _________. 2015e. Estoppel. 26-4-2015. http://en.wikipedia.org/wiki/Estoppel (truy cập 2-5-2015).
31. _________. 2015f. Tiến Quân Ca. 24-3-2015.
32. _________. 2015g. Plagiarism. Thay đổi chót: 26-4-2015.
33. _________. 2015h. Lưu Hữu Phước. Thay đổi chót: 1-4-2015.
34. _________. 2015i. IRAC. Thay đổi chót: 22-4-2015.
http://en.wikipedia.org/wiki/IRAC (truy cập 13-5-2015).
© 2015 Cao-Đắc Tuấn
Posted in vietnamese | Leave a comment

Phát biểu của Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh

Phát biểu của Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh

          Trong cuộc hội thảo ngày 3 tháng 5 năm 2015 tại Montréal, khoa học gia Dương Nguyệt Ánh đã trả lời câu hỏi của một vị ở Cannada về luật S-219 như sau: “ Dạ thưa, trước hết thì phải nói là khi mà những người ở Mỹ như Ánh khi mà được biết về cái đạo luật S-219 nhất là sau khi mà Canada đã pass cái đạo luật đó. Thì Ánh nói thật là trong lòng buồn vui lẫn lộn. Vui là mừng cho cộng đồng Gia nã Đại gốc Việt đã chứng tỏ sự trưởng thành và sức mạnh của cộng đồng Việt ở đây. Vì thật ra chúng ta cũng chỉ là một con số nhỏ thôi so với toàn cõi Canada với người di dân khác mà đã vận động được như vậy thì không phải là một chuyện dễ, đó là điều chứng tỏ, một cái bằng chứng về sự trưởng thành của cộng đồng, đó là niềm vui, và bên cạnh đó cũng có một nỗi buồn rất lớn vì xin thú thật với tất cả quý vị, quan niệm của Ánh rất là khác. Ánh quan niệm rằng quốc hận là ngày hận cho toàn cõi Việt Nam. Đó là ngày 30 tháng tư là cái ngày mà cả toàn cõi Việt Nam mất tự do và rơi vào tay của đảng CS. Chừng nào mà Việt Nam chưa có tự do thì chừng đó phải có ngày quốc  hận 30 tháng tư và sau đó Ánh nghĩ là chúng ta có 2 mục đích khác nhau. Mục đích tổ chức Quốc hận là để nhắc nhở cho chúng ta và con cháu chúng ta đừng quên rằng mình được tự do nhưng trên 80 triệu người Việt Nam chưa có tự do và chừng nào Việt Nam chưa có tự do thì tất cả chúng ta vẫn phải có bổn phận phải tranh đấu cho Việt Nam được tự do. Giống như ngày xưa chúng ta có ngày quốc hận là 20 tháng 7 kỷ niệm ngày chia đôi đất nước Việt Nam, ngày đó miền Nam vẫn giữ ngày 20 tháng 7 là ngày quốc hận chứ không có đổi là ngày hành trình cho tự do để mừng cho những người, hàng triệu đồng bào miền Bắc đã may mắn di cư từ miền Bắc vào miền Nam. Còn mục đích thứ hai mà ông (người đặt câu hỏi) vừa nói là một mục đích rất quan trọng như chúng ta ngoài chuyện chúng ta mừng là chúng ta đến được đất tự do nhưng chúng ta cũng muốn có một cái phương tiện, một cái cách, để mà nhân một cái dịp để mà giải thích cho những người Canada và cho con cháu chúng ta về ý nghĩa tại sao mà có mặt cái cộng đồng người Việt Nam tại đây. Ánh nghĩ rằng cái mục đích đó rất quan trọng nhưng giá mà chúng ta chọn một ngày khác. Ngày đầu tiên mà người tị nạn Việt Nam được đặt chân đến Canada chẳng hạn hay là ngày mà chính phủ Canada ký sắc lệnh ban hành chấp thuận cho người Việt Nam được đến tị nạn tại Canada chẳng hạn. Nếu chúng ta có hai ngày đó riêng ra thì sẽ không có ai chống đối và không có những sự tranh cãi rất là đáng tiếc ở trong cộng đồng chúng ta. Đáng lẽ là chúng ta phải cùng nhau rất là mừng, nhưng có người mừng có người không mừng, có người buồn có người giận dỗi v.v… Trong khi thật ra cái bên chống hay là bên đồng ý, tất cả chúng ta đều cùng một lòng cả, chúng ta đều muốn hướng về quê hương Việt Nam. Người ủng hộ hay là không ủng hộ dự luật đó như Ông (người đặt câu hỏi) vừa nói đều thật ra là như người Mỹ vẫn nói :” We agree to disagree” chúng ta đều cùng 1 lòng hướng về quê hương Việt Nam. Nhưng chỉ là chuyện rất đáng tiếc là ngày quốc hận và ngày hành trình cho tự do bị dồn vào làm một. Vì như vậy Ánh vẫn muốn là, mình giữ nguyên ngày quốc hận là ý riêng của Ánh thôi là để giữ nguyên ý chí phục thù, mình luôn nhắc nhở mình, con cháu mình là chừng nào Việt Nam chưa có tự do thì phải có ngày quốc hận.
(Trích từ “Những lời nhận định của KHD Dương Nguyệt Ánh về Luật S-219 trong buổi hội thảo do Cộng đồng Người Việt tự do vùng Montréal tổ chức. Do PN ghi lại từ youtube. Xin xem các bài viết của bà Hoàng Lan Chi về vấn đề này).
Posted in vietnamese | Leave a comment

Cảnh sát Nhật khám xét toàn bộ các văn phòng đại diện của Vietnam Airlines tại Nhật.

Cảnh sát Nhật khám xét toàn bộ các văn phòng đại diện của Vietnam Airlines tại Nhật.

Người phát ngôn của Vietnam Airlines vừa chính thức xác nhận: Tất cả các văn phòng đại diện của Vietnam Airlines tại Nhật vừa bị cảnh sát Nhật lục soát để tìm kiếm hàng hóa bị ăn cắp.
 
Vụ tai tiếng liên quan tới Vietnam Airlines bắt đầu từ ngày 10 tháng 8, sau khi cảnh sát quận Kumamoto bắt quả tang hai “tu nghiệp sinh” người Việt đang ăn cắp hàng hóa của một trung tâm mua sắm. Hai “tu nghiệp sinh” này đến Nhật để làm việc cho một công ty xây dựng hồi tháng 2. Mỗi tháng họ nhận được 70,000 Yen nhưng bị các doanh nghiệp “xuất khẩu lao động” của chính quyền CSVN “trấn lột” 50,000 Yen/tháng nên không đủ sống và được một nhân viên của Vietnam Airlines tại Nhật tuyển mộ để đi ăn cắp mỹ phẩm… Báo chí Nhật cho biết, cảnh sát Nhật đã xác định có tới 85 người Việt liên quan tới tổ chức trộm cắp này. Ðồng thời, cảnh sát Nhật tuyên bố, việc đưa “tu nghiệp sinh” Việt Nam sang Nhật làm việc có dấu hiệu buôn người nên đã đề nghị cảnh sát hình sự quốc tế hợp tác điều tra.
Hôm 17 tháng 12, cảnh sát Nhật đã bắt quả tang Ðặng Xuân Hợp, phi công của Vietnam Airlines đang vận chuyển hàng gian về Việt Nam. Cảnh sát xác định có khoảng 50 nhân viên (bao gồm cả phi công lẫn tiếp viên hàng không) của Vietnam Airlines dính líu đến tổ chức trộm cắp và vận chuyển hàng gian đang bị điều tra. Vì các nghi can cùng cho biết những Văn phòng đại diện của Vietnam Airlines tại Nhật là nơi cất giấu hàng trộm cắp nên một đợt khám xét những văn phòng này vừa được thực hiện.
 
Theo báo điện tử VnExpress, người phát ngôn của Vietnam Airlines chỉ xác nhận cảnh sát Nhật đã khám xét các văn phòng của hãng này và đã “làm việc” với một số tiếp viên, phi công. Phía Vietnam Airlines từ chối bình luận trước khi giới hữu trách ở Nhật công bố thông tin.
 
“Tu nghiệp sinh” Việt Nam tại Nhật – một loại nô lệ
Vụ bê bối liên quan tới Vietnam Airlines tại Nhật không chỉ giới hạn trong phạm vi tổ chức-vận chuyển-tiêu thụ hàng ăncắp. Báo chí Nhật và một số du học sinh tại Nhật đã cung cấp thêm nhiều thông tin để lý giải vì sao “tu nghiệp sinh” Việt Nam tại Nhật phải tham gia vào các tổ chức trộm cắp do nhân viên Vietnam Airlines tổ chức.
 
Về lý thuyết, “tu nghiệp sinh” là một dạng học nghề nên dù sang Nhật để làm thuê song không được trả lương mà chỉ được hưởng “trợ cấp”. Ðó là sự bất công thứ nhất mà người nghèo ở Việt Nam phải gánh chịu khi chập nhận sang Nhật làm thuê.
 
Bất công thứ hai là muốn được đi sang Nhật làm “tu nghiệp sinh”, những người nghèo ở Việt Nam phải đóng khoảng 1 triệu Yen/người cho Sovilaco hoặc Suleco (những doanh nghiệp quốc doanh, độc quyền xuất khẩu lao động sang Nhật). Vì sợ “tu nghiệp sinh” bỏ trốn, Nguyễn Gia Liêm – đại diện của Bộ Lao Ðộng Thương Binh Xã Hội CSVN được cử sang Nhật để “giám sát, bảo vệ quyền lợi cho người lao động Việt Nam” đã yêu cầu giới chủ ở Nhật thu giữ passport, thẻ ngoại kiều của “tu nghiệp sinh” nhằm bảo vệ quyền lợi cho Sovilaco hoặc Suleco. Ða số chủ hãng của Nhật chỉ dám giữ passport của “tu nghiệp sinh” vì thu giữ giấy tờ tùy thân của người khác là vi phạm luật pháp của Nhật.
 
Gần như tất cả “tu nghiệp sinh” tại Nhật phải làm việc khoảng 20 tiếng/ngày và 7 ngày/tuần nhưng chỉ được trả “trợ cấp” 70,000 Yen/tháng (khoản thu nhập chỉ bằng một nửa mức thu nhập tối thiểu) vì là… “tu nghiệp sinh”. Bất công thứ ba là 50% khoản trợ cấp 70,000 Yen/tháng đó được giới chủ Nhật chuyển vào tài khoản của Sovilaco hoặc Suleco tại Nhật, để Sovilaco hoặc Suleco khống chế “tu nghiệp sinh”: Một mặt ngăn ngừa họ bỏ trốn do lao động cực nhọc, lương thấp, mặtkhác để hưởng tiền lời. Nếu “tu nghiệp sinh” đau bệnh, xin trở về nguyên quán sớm hoặc có lỗi lầm dẫn tới bị sa thải trước khi “hợp đồng gửi đi làm tu nghiệp sinh” hết hạn, Sovilaco hoặc Suleco sẽ tịch thu toàn bộ số tiền 50% đã giữ mỗi tháng để “bồi thường các thiệt hại do vi phạm hợp đồng”. Ðó là chưa kể, mỗi tháng, một tu nghiệp sinh còn phải trả cho Sovilaco hoặc Suleco 10,000 Yen “quản lý phí”.
 
Một blogger người Việt có nickname là “Minh T”, sống tại Nhật khẳng định: “Với 25,000 Yen còn lại, phải dành 10,000 Yen trả tiền nhà/tháng, 15,000 Yen để trả các loại chi phí ăn, uống, điện, nước, ga,… gái không làm điếm, trai không ăn cắp cho bọn hàng không Việt Nam mới là chuyện lạ vì họ đã bị bóc lột đến tận xương tủy. Mong sao cảnh sát Nhật phối hợp với ICPO (Hình cảnh Quốc tế), điều tra, hốt hết bọn bất lương trong các đường dây buôn người của chính phủ Việt Nam như họ đã tuyên bố”.
 
Viên chức ngoại giao Việt Nam tại Nhật: Bẩn thỉu và thô lỗ
Bên cạnh các scandal “PCI”, “Vietnam Airlines”, “Tu nghiệp sinh”,… các viên chức ngoại giao của Việt Nam tại Nhật cũng đang tạo ra vô số tai tiếng.
Từ dư luận, báo chí Nhật đã cử phóng viên điều tra việc các cơ quan ngoại giao của Việt Nam tại Nhật bán giấy tờ giả. Một phóng viên Nhật đã thử liên lạc và cuối cùng mua được một passport từ lãnh sự quán CSVN tại Osaka với giá chỉ có 30,000 Yen, dù anh ta hoàn toàn không phải là công dân Việt Nam và không biết nói tiếng Việt.
 
Ngoài vụ “Quốc tịch Việt Nam trị giá 30,000 Yen”, tòa đại sứ CSVN tại Tokyo cũng đang nằm trong tầm ngắm do bị nghi chuyên chứng thực các bằng lái xe giả (để người sử dụng được miễn thi lấy bằng lái xe tại Nhật). Sở Cảnh sát Tokyo đã ban hành một chỉ thị, theo đó, những giấy tờ do tòa đại sứ CSVN chứng thực chỉ có giá trị sử dụng sau khi đã được Bộ Ngoại Giao Nhật chứng thực lại, rằng con dấu của Tòa Ðại sứ CSVN trên giấy tờ là dấu… thực.
 
Vụ mới nhất, đang khiến dân chúng Nhật phẫn nộ đó là việc một viên chức của tòa đại sứ CSVN tại Nhật lăng mạ công đoàn tỉnh Aichi (Airoren), một chi nhánh thuộc Tổng Công Ðoàn Nhật. Trước đó, Airoren đã nhận sự ủy thác của tổ chức công đoàn đại diện cho các công nhân làm việc cho Toyota, yêu cầu bảo vệ quyền lợi cho 64 “tu nghiệp sinh” Việt Nam, vốn đang bị Sovilaco, Suleco của phía chính quyền CSVN và các công ty trung gian ở Nhật bóc lột.
 
Sau khi Airoren liên lạc với 64 “tu nghiệp sinh” này để làm các thủ thục thay mặt họ nộp đơn kiện đòi quyền lợi, cả 64 người đã bị viên chức của tòa đại sứ CSVN tại Nhật gọi lên “làm việc”. Trong buổi “làm việc” đó, “tu nghiệp sinh” được yêu cầu chấm dứt quan hệ với Airoren bởi Airoren là một “tổ chức phi pháp” hoạt động như “Mafia”. Ai đó trong số 64 “tu nghiệp sinh” đã bí mật ghi âm và sau khi băng ghi âm được chuyển cho Airoren, Airoren đã gửi văn bản phản kháng cho chính quyền CSVN, yêu cầu thủ tướng CSVN phải xin lỗi, nếu không, họ sẽ kiện đại sứ quán CSVN ra tòa án Nhật.
 
Trước sự kiện này, blogger có nickname “Minh T” nhận xét: “Chắc chắn những nhân viên của tòa đại sứ là đảng viên cộng sản. Họ phải hiểu rằng Ðảng cộng sản là đại diện của giai cấp công nhân nhưng họ đã không đứng về phía công nhân mà còn sỉ nhục người ta. Họ là nhân viên ngoại giao nhưng quên mất nghiệp đoàn lao động là biểu tượng của nhân dân lao động Nhật”. Cũng blogger “Minh T” kể tiếp: “Tanaka Masao – một cảnh sát viên của tỉnh Gunma đang tham gia điều tra vụ hàng không Việt Nam, có cha từng là cố vấn quân sự cao cấp của Việt Minh, nói như thế này với báo chí Nhật: Tôi không thể tưởng tưởng và hiểu được, tại sao một dân tộc có 4,000 năm văn hiến, dũng cảm, lại để thế hệ con cháu phải đi làm nô lệ ở xứ người như vậy”.
 

Gia Ðịnh

Posted in vietnamese | Leave a comment