Engaging China in the South China Sea – Ràng buộc Trung Quốc về Biển Đông

The Jakarta Post

Ràng buộc Trung Quốc về Biển Đông

Bambang Hartadi Nugroho

Ngày 14-7-2011

Hồi tháng 6, vấn đề Biển Đông một lần nữa lại thu hút sự chú ý của công chúng. Những tuyên bố chồng lấn về một vùng biển nằm ở phía nam Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa giữa 6 nước – Việt Nam, Brunei, Malaysia, Philippines, Trung Quốc và Đài Loan – đã trở thành một mối quan tâm chiến lược hệ trọng, bởi vì nó dính líu đến một cường quốc đang lên trong khu vực vốn có thái độ và những ý định vẫn còn trong bóng tối mặc dù đã trải qua nhiều năm tương tác với cộng đồng quốc tế.

Làm cho mọi thứ trở nên phức tạp, cuộc xung đột gần như sẽ là một thanh nam châm hút Mỹ vào với tư cách là một cường quốc thế giới.

Khi xem xét cuộc xung đột này, điều đáng chú ý là các bên hiểu quan điểm của Trung Quốc về vụ việc như thế nào, từ đó sẽ xác định cách thức họ phản ứng và lựa chọn cơ chế tốt nhất trong việc quản lý xung đột.

Là một nước đang nổi lên, Trung Quốc đã thu hút cả sự quan tâm lẫn tò mò từ nhiều phía, trong đó có các nhà hoạch định chính sách và các học giả. Một trong những mối quan tâm lớn nhất về sự vươn dậy của Trung Quốc là nước này sẽ trở thành loại cường quốc mới nào, và nước này sẽ thể hiện kiểu hành xử nào một khi đã thành cường quốc. Những lo ngại như vậy làm gia tăng những e sợ vốn có từ lâu và sự thù nghịch giữa các quốc gia Đông Nam Á về Trung Quốc, do trước kia từng nếm trải sự lan truyền của chủ nghĩa cộng sản trong khu vực.

Năm 2007, Avery Goldstein đã đề xuất hai cách để giải thích về sự nổi lên của Trung Quốc. Cách thứ nhất coi sự nổi lên của Trung Quốc như một hướng có thể tiến tới một sự chuyển giao quyền lực, đặc biệt ở Đông và Đông Nam Á. Trích dẫn giả thuyết ổn định dựa trên bá quyền, lập luận này cho rằng, sự nổi lên của Trung Quốc có thể cho thấy đất nước này đang phát triển nhắm tới thay thế vai trò của Mỹ như một nước bá chủ trong khu vực – hoặc thậm chí trên toàn cầu.

Trong trường hợp tranh chấp ở Biển Đông, một viễn cảnh như vậy coi đó là các nỗ lực của Trung Quốc muốn tách ra khỏi cấu trúc an ninh trong khu vực vốn luôn nằm dưới ô bảo vệ an ninh của Mỹ. Một người có thể nhìn nhận chiến lược dài hạn của Trung Quốc là sự phát triển lực lượng hải quân viễn dương của nước này như một hàn thử biểu cho ý đồ tương lai này.

Mặt khác, Goldstein cũng đưa ra một cách nhìn lạc quan hơn về sự nổi lên của Trung Quốc. Cách nhìn này không nhất thiết phải tin rằng Trung Quốc đang vươn lên một cách hòa bình nhưng nó phủ nhận sự e sợ mà hầu hết các nước cảm nhận về gã khổng lồ châu Á.

Lập luận cho cách nhìn thứ 2 là dù nước này luôn có lập trường gay gắt về một số vấn đề nhất định, trong đó có chủ quyền lãnh thổ, nhưng diễn biến gần đây cho thấy Trung Quốc sẵn sàng tham gia vào một số cơ chế và thể chế đa phương. Nhiều người coi việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) như một sự kiện quan trọng bênh vực cho những lập luận như vậy.

Chẳng hạn, với ASEAN, có thể thấy Trung Quốc hăm hở tham gia vào các cơ chế đa phương qua việc nước này gia nhập Hiệp định Thân thiện và Hợp tác (TAC) năm 2003, đi đầu trong số các nước lớn. Một năm trước đó, Trung Quốc cũng nhất trí tuân thủ Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

Dù chúng có thể là sự ràng buộc không mang tính pháp lý, việc tham gia cả TAC và DOC đều cho thấy thiện chí của Trung Quốc muốn tạo nên một khu vực hòa bình và ổn định.

Mặc dù không có nghĩa vụ pháp lý đối với các thỏa thuận đó, Trung Quốc thực ra vẫn có một trách nhiệm chính trị phải hành động phù hợp với những gì nước này đã nhất trí từ trước.

Trong các hoàn cảnh ít chính thức hơn, Trung Quốc còn tham gia vào một loạt các hội thảo về Biển Đông (SCSW) bằng cách cử các nhà chức trách và các học giả tới tham dự.

Với hai mô hình đang nằm trên bàn thảo luận, giờ đây tùy thuộc ASEAN sẽ quyết định tin kiểu nào, và từ đó hành động một cách phù hợp. Tuy nhiên, có vẻ như trong tình hình hiện nay, lập trường của ASEAN rất lấp lửng. Có một khoảng cách đáng kể giữa vị thế của ASEAN như một tổ chức với các chính sách riêng rẽ của từng thành viên.

Với vai trò là một tổ chức, ASEAN đang cố gắng ràng buộc Trung Quốc vào các cơ chế đa phương, như đã đề cập ở trên. Lập trường của khối là giải quyết vấn đề thông qua các giải pháp chính trị và hòa bình.

Mặt khác, khi trở về là những thành viên riêng lẻ, một vài trong số các bên tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông thường tỏ ý thiên về các biện pháp quân sự. Hợp tác quân sự với Mỹ, đặc biệt là dưới hình thức tập trận chung tại hoặc gần khu vực tranh chấp, có thể bị xem là liều lĩnh, xét đến tình hình căng thẳng vừa qua.

Những hành động như vậy rõ ràng làm xói mòn các nỗ lực của ASEAN nhằm tìm ra một giải pháp chính trị cho vụ việc và có thể phát một thông điệp sai tới địch thủ chung của họ – Trung Quốc. Chúng cũng có thể bị suy luận là các thành viên ASEAN, mà hóa ra chính là các bên tranh chấp, hoặc có một cách nhìn khác về Trung Quốc hoặc tính toán sai về tình hình.

Ưu tiên của ASEAN muốn tìm ra các giải pháp chính trị thay vì các giải pháp quân sự cho những tranh chấp không chỉ bởi họ cam kết hướng tới một cách giải quyết hòa bình mà còn bởi nhận thức về sức mạnh hạn chế của họ so với các nước lớn khác, kể cả với vai trò là một khối.

ASEAN hiểu rõ rằng họ không có cơ hội để đứng trong một sự đối đầu quân sự với Trung Quốc ở Biển Đông; do đó, họ phải viện đến các giải pháp chính trị.

Một tình thế như vậy, dù không có lợi, đem đến cho các thành viên ASEAN những lựa chọn rất hạn chế để tạo ra một chiến lược đối diện với Trung Quốc trong trường hợp này. Chẳng hạn, mặc dù các thành viên có những lợi ích riêng trong tranh chấp hoặc triển vọng đối với Trung Quốc, họ không có lựa chọn nào khác là phải trung thành với lập trường chung của ASEAN; đó là, phải tiếp tục theo đuổi một giải pháp hòa bình và chính trị cho tranh chấp.

Lời khuyên của nhiều học giả là duy trì sự liên quan của Mỹ trong vụ việc cần phải được hiểu là việc tiếp tục các cam kết và sự tham gia của nước này vào các diễn đàn đối thoại đa phương nhằm bàn thảo vụ việc; chứ không phải sự đóng góp của nước này vào các cuộc tập trận quân sự, chưa nói đến các chiến dịch.

Không tính đến bản chất thực của việc nước này nổi lên, trên thực tế, Trung Quốc coi chủ quyền lãnh thổ là một vấn đề cốt yếu và, cũng như bất kỳ một nước nào khác, có thể bảo vệ lãnh thổ của mình bằng mọi khả năng khi phải đối mặt với tình hình nguy ngập.

Phản ứng của Trung Quốc – thông báo chính thức và triển khai tàu tuần tra – ngay sau khi Việt Nam tập trận là một chỉ dấu rõ ràng về một khả năng như vậy.

Một lần nữa, tùy các nước ASEAN, đặc biệt là các bên tranh chấp, sẽ dùng lựa chọn nào. Dù sao, lựa chọn sáng suốt là tiếp tục ràng buộc Trung Quốc vào các thỏa thuận đa phương trong khi tự kiềm chế những hành động có tính khiêu khích ở vùng tranh chấp.

Với sự nhường nhịn lẫn nhau là một nguyên tắc cơ bản, rất khó mong chờ Trung Quốc hành xử phải phép nếu tự thân các nước ASEAN không làm như vậy.

Người dịch: Trúc An

Theo Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

This entry was posted in english, vietnamese. Bookmark the permalink.

Leave a comment