The South China Sea’s Georgia Scenario – Một kịch bản tương tự Gruzia cho Đông Nam Á

Lyle Goldstein

11-7-2011

Đối với tranh chấp giữa Trung Quốc và các nước láng giềng của Trung Quốc, Mỹ không thể làm liều.

Ngày 22-6 tại Honolulu, khi Thôi Thiên Khải (Cui Tiankai), Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, cảnh báo các quan chức Hoa Kỳ rằng “các nước (ở Đông Nam Á) đang đùa với lửa”, và ông ta hy vọng “lửa ấy sẽ không lan tới Mỹ”, thì đó là một sự chấm dứt những luận điệu thường lệ trong các cuộc hội nghị thượng đỉnh. Thông điệp của Trung Quốc là: Đừng can thiệp vào tranh chấp quần đảo Spratly (tên quốc tế của quần đảo Trường Sa – ND) trên biển Hoa Nam (tức Biển Đông – ND), nơi năm nước có yêu sách chủ quyền khác đang tranh giành với Trung Quốc quyền khai thác trữ lượng tài nguyên dồi dào dưới biển ở khu vực này.

 

Trong hoàn cảnh đó, quan hệ Trung Quốc-Việt Nam, vốn vẫn tương đối tích cực kể từ năm 1990 tới nay, đã đột ngột chuyển hướng để rơi vào một cuộc khủng hoảng nguy hiểm. Việt Nam đã tiến hành 5 cuộc tập trận bắn đạn thật, như một lời cảnh báo rõ ràng với Bắc Kinh, và giới chức Mỹ cũng phụ họa vào bằng những tuyên bố thể hiện “mối quan ngại ngày càng lớn”, đồng thời củng cố quan hệ thân thiết truyền thống với Philippines, một trong các quốc gia có yêu sách chủ quyền ở vùng biển tranh chấp này. Tại một cuộc gặp với người đứng đầu Bộ Tổng tham mưu Hoa Kỳ, Đô đốc Michael Mullen, ở Bắc Kinh hôm 11-7, Tổng tư lệnh Trung Quốc Trần Bỉnh Đức (Chen Bingde) đã đánh giá các cuộc tập trận của Mỹ với Việt Nam và Philippines là “cực kỳ không thích hợp”. Đang tham gia tới ba cuộc chiến ở Trung Đông, các nhà lãnh đạo Mỹ hiện giờ sẽ phải làm sao để cho thấy rằng “sức mạnh thông minh”, chứ không phải chiến tranh quân sự, sẽ chỉ ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng hiện tại, để tiến tới một khu vực châu Á-Thái Bình Dương hòa bình và ổn định hơn.

Trong phần lớn thập kỷ qua, Biển Đông quả thật đã tương đối yên tĩnh nhờ có thỏa thuận năm 2002 giữa Bắc Kinh và Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) về một “bộ quy tắc ứng xử” cho Biển Đông. Hiệp định này đã góp phần giảm nhẹ những căng thẳng hình thành sau vụ hải chiến năm 1988 và hành động tranh giành lợi ích một cách hung hãn hơn vào thập niên 1990. Học giả Joshua Kurlantzick và một số người khác gọi tư duy và chiến lược của Trung Quốc ở Đông Nam Á trong thập kỷ qua là “thế công mê hoặc” (charm offensive), mà cốt lõi của nó là ký được hiệp định mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN, một hiệp định có thể phần nào giúp khu vực ra khỏi tình trạng tệ hại nhất hiện nay trong cơn suy thoái toàn cầu.

Tuy nhiên, việc Trung Quốc triển khai tàu ngầm hạt nhân và các chiến hạm tân tiến khác tới một căn cứ mới xây, còn đang ngổn ngang ở đảo Hải Nam trên Biển Đông đã khiến toàn khu vực phải nhíu mày suốt cả thập kỷ qua. Căng thẳng lớn bắt đầu bùng lên từ mùa xuân năm 2009 khi một đội tàu Trung Quốc quấy nhiễu một tàu khảo sát Hoa Kỳ hoạt động trên vùng biển quốc tế ở phía nam đảo Hải Nam. Những hoạt động khảo sát kiểu Chiến tranh lạnh đó vẫn hay được lực lượng vũ trang Hoa Kỳ tổ chức thường xuyên dọc bờ biển Trung Quốc (nhưng ngoài giới hạn lãnh hải 12 hải lý) – tuy nhiên đó là hoạt động mà giới lãnh đạo quân sự Trung Quốc coi là đe dọa nghiêm trọng tới họ và hiện giờ thì họ đánh giá đó là rào cản chính đối với hợp tác quân sự Mỹ-Trung. Những cuộc va chạm nguy hiểm giữa máy bay Mỹ và Trung Quốc bây giờ đã trở thành bình thường, một người đã thiệt mạng trong vụ máy bay khảo sát tháng 4/2001 (cũng diễn ra gần đảo Hải Nam trên Biển Đông).

Trong khi đó, những nước khác trong khu vực như Việt Nam đã và đang sôi sục theo đuổi công việc thăm dò dầu khí tại những nơi nằm gần hoặc nằm trong vùng biển khổng lồ mà Trung Quốc đòi chủ quyền, chiếm gần hết diện tích Biển Đông. Vào năm 2009 khi Hà Nội tuyên bố dự định đầu tư ngân sách đáng kể để mua sáu tàu ngầm Nga, có thể thấy rõ là cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, bị kiềm chế và sôi sục nhiều năm, nay đã nóng lên nghiêm trọng.

Tháng ba năm ngoái, căng thẳng lên tới điểm sôi. Quan chức Mỹ hẳn đã phải bận tâm khi giới chức cấp cao Trung Quốc coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”. Đây được coi là bằng chứng mới nhất về một sự thay đổi bước ngoặt mới, bị đánh giá là hiếu chiến, trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Sau đó, khoảnh khắc mang tính chất xúc tác xảy ra vào tháng 7/2010 tại Diễn đàn Khu vực ASEAN, tổ chức tại Hà Nội. Tại cuộc họp này, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton khẳng định Mỹ có lợi ích quốc gia trong vấn đề tự do hàng hải trên Biển Đông, và cảnh cáo “việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực từ bất kỳ quốc gia có yêu sách chủ quyền nào”. Tham dự hội nghị này, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì (Yang Jiechi) tỏ ra rất ngạc nhiên và phẫn nộ trước bình luận của bà Clinton. Sau đó vào tháng 8, quan chức Việt Nam được mời lên thăm tàu khu trục Mỹ George Washington, cho thấy tín hiệu rõ ràng rằng quân đội Mỹ có dự định thắt chặt quan hệ với lực lượng vũ trang Việt Nam để cản bước Trung Quốc. Tháng 8/2010, Trung Quốc cũng tiến hành những cuộc tập trận lớn trên biển Hoa Nam.

Mùa xuân năm nay, một loạt căng thẳng mới lại bùng nổ. Philippines khiếu nại về việc Trung Quốc xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền Philippines, còn Việt Nam buộc tội Trung Quốc cắt cáp khảo sát địa chấn của họ – một hành động vừa là sự leo thang tranh chấp vừa là biểu hiện của sự phẫn nộ của Bắc Kinh trước việc Hà Nội tiếp tục chủ động thăm dò những khu vực tranh chấp (*). Phản ứng của Washington thống nhất: Trong một bài diễn văn trước Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế của Hội nghị Thượng đỉnh An ninh châu Á, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates đề nghị “triển khai tàu chiến tuần duyên của Mỹ tới Singapore” và “tăng cường sự tham gia của hải quân trong toàn khu vực”.

Sự tập trung của Washington vào vấn đề “tự do hàng hải” – điều đã trở thành cái xương sống trong chính sách hiện nay của Mỹ trong khu vực, một cách rất khó giải thích – quả thật khá lạ lùng. Trung Quốc  – quốc gia mà kiểu gì cũng buôn bán bằng đường biển nhiều nhất thế giới – ít có khả năng nào lại là kẻ đe dọa quyền tự do hàng hải; nền kinh tế của họ gần như phụ thuộc hoàn toàn vào quyền ấy (ND nhấn mạnh). Cũng vậy, quan điểm cho rằng Trung Quốc phản đối các hoạt động khảo sát quân sự thường xuyên của Mỹ nghĩa là Trung Quốc “đe dọa tự do hàng hải” là quan điểm không đúng đắn và thể hiện một khuynh hướng không tốt: khuynh hướng sử dụng sáo ngữ (nguyên văn: sound bite) một cách khôn khéo. Trên thực tế, các hoạt động như vậy của Mỹ suốt dọc bờ biển Trung Quốc là thái quá đến mức phá hoại nghiêm trọng quan hệ song phương, và do vậy cần phải được giảm bớt, nhất là nếu xét đến những tiến bộ gần đây của Trung Quốc về độ minh bạch trong quân sự.

Hơn thế nữa, cái được coi là hiểm họa Trung Quốc đối với các nước ASEAN dường như lại có vẻ là cường điệu quá so với thực tế. Người ta đã nói nhiều về căn cứ tàu ngầm hạt nhân mới của Trung Quốc trên đảo Hải Nam, nhưng điều làm người ta ngạc nhiên là cho đến giờ Bắc Kinh mới chỉ có một căn cứ tàu ngầm hạt nhân (Thanh Đảo – Qingdao) khá tầm thường so với bốn chiếc mà hải quân Mỹ vận hành trên Thái Bình Dương. Tương tự, việc đặt căn cứ cho một chiếc tàu ngầm tên lửa đạn đạo, thậm chí tàu khu trục đầu tiên, của Trung Quốc tại Hải Nam chắc chắn là sẽ bộc lộ sự yếu kém thay vì sức mạnh của họ. Và xét tới cùng, bố trí căn cứ ở miền bắc Trung Quốc chỉ có nghĩa là những tài sản giá trị sẽ được đặt gần sức tấn công rất ấn tượng của các hạm đội Mỹ và Nhật (đóng chủ yếu ở Đông Bắc Á) hơn và do đó dễ bị oanh kích hơn.

Có thể đặt vài câu hỏi duy lý cho những ai coi “thái độ hung hăng” của Trung Quốc là yếu tố gây nên căng thẳng hiện nay; rằng tại sao Trung Quốc chỉ có sáu điểm đóng quân trên quần đảo Trường Sa (so với con số 29 điểm mà Việt Nam đang giữ); tại sao Bắc Kinh là một trong số ít quốc gia có yêu sách về chủ quyền mà đã và đang không hề hút dầu khỏi Biển Đông; và tại sao hòn đảo lớn nhất Trường Sa lại do Đài Loan cai quản. Trên thực tế, chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông nói chung chỉ mang tính phản kháng, cả trong tình hình hiện tại lẫn quá khứ; điều này giải thích nhiều về sự rời rạc, thiếu mạch lạc trong chính sách hiện nay của Trung Quốc. Trung Quốc đã giải quyết đa số những tranh chấp biên giới của họ một cách hòa bình, và trong việc thực thi các yêu sách trên Biển Đông thì họ chủ yếu trông cậy vào những tàu tuần tra nhỏ không trang bị vũ khí – rõ ràng đây là một dấu hiệu cho thấy họ không có ý định leo thang đến chiến tranh vũ trang.

Và tình hình sẽ như thế nào nếu các vai trò bị đảo ngược? Điều gì sẽ xảy ra nếu Trung Quốc ký một hiệp định hợp tác về quốc phòng với Venezuela (đấy là chưa nói tới các căn cứ ở Canada) và sôi sục theo đuổi việc tập trận quân sự hàng năm với Cuba, đồng thời xin làm trung gian hòa giải các tranh chấp tài nguyên khác nhau ở biển Ca-ri-bê (Carribean)? Trong những hoạt động ấy, Washington có lẽ sẽ không tỏ vẻ tử tế thế đâu.

Tuy nhiên, sự thật cay đắng là Đông Nam Á tuyệt nhiên không để tâm đến thế cân bằng quyền lực toàn cầu. Phần lớn quốc gia trong khu vực này là những nước nghèo nàn, nhỏ bé, chẳng có tí vai trò quan trọng nào, nhưng những “cường quốc cỡ trung” ở khu vực như Việt Nam, Indonesia và Australia đều sẽ rất tự nhiên và tự nguyện đứng lên chống lại một Trung Quốc có khả năng sẽ trở thành hung hăng. Nếu Trung Quốc và Việt Nam có chiến tranh vì vài tảng đá ngoài biển kia, sẽ không tránh khỏi việc cả hai đều phải chịu một loạt những hậu quả tai hại, nhưng điều ấy sẽ chỉ gây ảnh hưởng rất không đáng kể đối với an ninh quốc gia Mỹ. Và quả thật, các tuyến đường biển đều có vai trò sống còn đối với nền kinh tế Nhật Bản, Hàn Quốc, nhưng cả hai nước này đều được trang bị các đội tàu lớn, hùng mạnh, lại cũng là một thế lực kiểm soát tham vọng của Bắc Kinh.

Hơn thế nữa, Bắc Kinh hiểu quá rõ điều gì đã xảy ra với Gruzia năm 2008. Trong câu chuyện không may mắn đó, Mỹ đã đổ lên đồng minh mới của mình cả loạt cố vấn quân sự cùng sự quan tâm chú ý ở mức cao nhất. Nhưng khi xe tăng Nga lăn bánh vào, sáp nhập thành công một phần lớn lãnh thổ Gruzia và đánh bại hoàn toàn các lực lượng vũ trang của Tbilisi, thì phản ứng của Washington chỉ lên tới mức than vãn. Cuối cùng thì không thú vị gì khi phải mạo hiểm xung đột mở rộng với Mátxcơva vì một quốc gia có lợi ích chiến lược cận biên (marginal strategic interest; từ “marginal” vừa có nghĩa là “cận biên” vừa mang ý nghĩa “bên lề”, “phụ thêm” – ND). Bài học ấy nên được chỉ rõ cho Đông Nam Á.

Washington phải tránh mọi sự cám dỗ có thể xui khiến họ mạo hiểm quá tay – mặc dù các quốc gia trong khu vực sẽ reo mừng vì điều đó bất cứ khi nào có dịp. Nguyên tắc căn bản trong chính sách của Hoa Kỳ trên Biển Đông đã và nên được duy trì theo đường lối không can thiệp. Tranh chấp tài nguyên vốn dĩ là phức tạp và chắc chắn sẽ không thể được giải quyết bằng những tuyên bố to tát hoặc các hội nghị thượng đỉnh đa phương. Thay vì thế, những tiến triển đạt được sẽ xuất phát từ sự kết hợp chính sách ngoại giao trong hậu trường, không công khai, với việc một hoặc một số quốc gia tham gia tranh chấp thỉnh thoảng lại tổ chức một cuộc biểu diễn lực lượng. Trên thực tế, thành tích giải quyết xung đột của Bắc Kinh trong suốt 30 năm quả là đáng kích lệ: Kể từ năm 1979 đến nay, Trung Quốc chưa lần nào sử dụng vũ lực đáng kể.

Tiến trình lộn xộn đó không nhất thiết sẽ làm rối loạn trật tự khu vực châu Á hoặc trật tự toàn cầu. Phải ưu tiên đối thoại. Sự hợp tác chủ động của Mỹ với Trung Quốc ở Đông Nam Á, chẳng hạn trong cuộc chiến chống nạn cướp biển và khủng bố – vốn là những vấn đề có thể thực sự đe dọa các tuyến đường hàng hải sống còn – có thể có tác dụng xây dựng niềm tin trong lĩnh vực hợp tác an ninh, khía cạnh mà bây giờ đang thiếu vắng nghiêm trọng. Sự hợp tác đó cũng có tác dụng tái bảo đảm cho các quốc gia khu vực không muốn thấy Đông Nam Á trở thành chiến trường mới của các siêu cường.

Chắc chắn là Mỹ phải duy trì chính sách “cây gậy lớn”, song họ còn phải làm nhiều việc hơn thế để “thuyết phục nhẹ nhàng” thông qua chính sách ngoại giao linh hoạt, thực tiễn, và ít lời. Mỹ cũng nên tránh mọi cam kết mới, chẳng hạn việc củng cố quan hệ quốc phòng với Việt Nam hay bất kỳ nước có yêu sách chủ quyền nào khác trong khu vực, để ngăn chặn việc căng thẳng có thể leo thang mạnh hơn mà biến thành bạo lực thực sự.

Lyle Goldstein là phó giáo sư Viện Nghiên cứu Hàng hải Trung Quốc, thuộc Cao đẳng Hải chiến Hoa Kỳ ở Newport, tiểu bang Rhode Island. Ông là đồng chủ biên các bộ sách gần đây về Trung Quốc, Mỹ và thế kỷ 21.

Người dịch chú thích: Xin lưu ý độc giả: Cả hai điểm tại đó Trung Quốc cắt cáp khảo sát địa chấn của Việt Nam đều nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên ở đây, độc giả có thể thấy Trung Quốc đã thành công trong việc biến vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam thành khu vực tranh chấp.

Người dịch: Thủy Trúc

Theo Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

This entry was posted in english, vietnamese. Bookmark the permalink.

Leave a comment