Blue Waters, Black Oil in the South China Sea –

Caixin Online

Nước xanh, dầu đen ở Biển Đông

Wang Xiaocong và Sun Huixia

18-7-2011

Đến nay, Trung Quốc vẫn chọn sự ổn định cho cuộc xung đột ở Biển Đông giàu năng lượng giữa nước này với một số quốc gia láng giềng phía nam.

Chưa một quốc gia châu Á nào có tuyên bố chủ quyền ở vùng Biển Đông xanh thẳm – và các tuyên bố về trữ lượng dầu đen nằm sâu bên dưới những con sóng – lắp đặt một giàn khoan dầu đơn lẻ nào ở tâm vùng tranh chấp.

 

Đến nay, mới chỉ có các thềm lục địa và các dải bờ biển của những nước giáp biển được thăm dò và khai thác về dầu lửa cùng khí tự nhiên. Có thể tìm thấy những địa điểm đó ở ngoài khơi phía đông Việt Nam, đông Malaysia, bắc Indonesia và Brunei, tây Philppines, và nam Trung Quốc.

Các đại gia dầu lửa thế giới chiếm giữ đa số các hợp đồng sản xuất dầu khí ký với các nước Đông Nam Á quanh Biển Đông. Sự phát triển quyết liệt nhất là ở Việt Nam, nơi Mobil Oil Corp. khi xưa là tập đoàn đầu tiên tìm thấy dầu ở ngoài khơi bờ biển phía nam năm 1975.

Trong thập niên tiếp theo, tập đoàn dầu lửa lớn của Việt Nam là PetroVietnam và tập đoàn Zarubezhneft của Liên Xô đã thành lập liên doanh Vietsovpetro để cùng khai thác một mỏ dầu có tên Bạch Hổ. Ngày nay, PetroVietnam vẫn là công ty dầu lửa lớn nhất cả nước trong một ngành được coi là trụ cột kinh tế quốc gia và là nguồn đóng góp ngoại hối chủ chốt.

Một nước khác hăng hái khai thác dầu ở Biển Đông là Philippines, nước có ngành dầu lửa còn khá nhỏ. Một số giếng tìm kiếm được khoan với sự hợp tác của các công ty quốc tế nhưng không mang lại thành quả.

Tuy nhiên, hồi cuối tháng 6, Philippines công bố nước này sẽ tổ chức đấu thầu quốc tế về các quyền khai thác ở một số lô trong các khu vực Biển Đông mà Trung Quốc nhận chủ quyền.

Cuộc đàm phán của Malaysia về vùng biển này thiên về thúc đẩy sản xuất hơn là về chủ quyền. Các giếng dầu trên toàn nước này cung cấp 750.000 thùng/ngày trong năm 2007 và 693.000 thùng/ngày năm 2009. Cục Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho biết, hầu hết lượng dầu đó đều bắt nguồn từ Biển Đông,

Malaysia xuất khẩu khoảng 190.000 thùng/ngày, với khoảng 1/3 số này được chuyển tới Mỹ, theo EIA.

Trung Quốc, trong khi đó, hút được từ Biển Đông khoảng 290.000 thùng dầu/ngày, theo dữ liệu trên trang web của tổ chức chính sách công An ninh Toàn cầu trụ sở ở Mỹ.

Tổ chức này cho biết, Malaysia hiện đang khai thác mỗi ngày khoảng 645.000 thùng, Việt Nam 180.000 thùng và Indonesia 46.000 thùng. Cộng lại, theo An ninh Toàn cầu, khoảng 1,37 triệu thùng được bơm lên khỏi đáy Biển Đông mỗi ngày.

Trong khi đó, dữ liệu của tổ chức trên cho biết, Malaysia là nhà sản xuất khí tự nhiên hàng đầu – đạt 1.300 tỷ feet khối, tương đương hơn một nửa tổng sản lượng gas của Biển Đông – trong khi Trung Quốc chỉ đạt được 141 tỷ feet khối khí.

Các nguồn tin cho Caixin hay rằng các lãnh đạo chính phủ Trung Quốc từ lâu đã phải vật lộn trước các câu hỏi về việc cần bảo vệ quyền lãnh hải ở Biển Đông hay tìm kiếm các mối quan hệ ổn định với các nước láng giềng trong khu vực. Theo các nguồn tin trên, sự phát triển các lợi ích dầu lửa và khí đốt của Trung Quốc sẽ gây xích mích với các nước láng giềng, và đến nay, chính phủ Trung Quốc vẫn chọn sự ổn định.

Chính sách của Trung Quốc đã phải đối mặt với nhiều thách thức mới sau khi Mỹ, cách đây một năm, tuyên bố các nỗ lực nhằm thiết lập một tiến trình pháp lý chính thức cho giải quyết các tranh chấp lãnh thổ liên quan tới Biển Đông và các nguồn lực dưới nước của nó. Một số quốc gia Đông Nam Á sau đó ra các tuyên bố mới về chủ quyền. Và hồi tháng 6, Philippines và Việt Nam đã tổ chức các cuộc tập trận chung gây căng thẳng.

Ngoại trưởng Hillary Clinton nhấn mạnh Mỹ “có một lợi ích quốc gia về tự do hàng hải” trong khu vực. Nhưng Trung Quốc coi lập trường này của Mỹ là sự can thiệp vào nội bộ của chính nước này.

Trung Quốc khẳng định chủ quyền không thể chối cãi đối với các đảo và vùng nước xung quanh tại Biển Đông. Tuy nhiên, những tuyên bố như thế đụng chạm với các tuyên bố của Philippines, Việt Nam, Brunei và Malaysia ở các vùng biển được tin là có nhiều dầu khí.

Cnooc thận trọng

Vì các lý do chính trị cũng như kỹ thuật và thương mại, các công ty dầu lửa Trung Quốc đã có một cách tiếp cận nhằm khai thác các nguồn lực của khu vực thận trọng hơn nhiều so với các công ty ở Việt Nam, Philippines, Malaysia và các quốc gia khác.

Tuy nhiên, những diễn biến gần đây liên quan tới dầu mỏ giữa các nước Đông Nam Á có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông đã khiến các lãnh đạo của Tập đoàn Dầu lửa ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (Cnooc), nhà sản xuất dầu khí ngoài khơi lớn nhất của nước này, xem xét lại chiến lược ngồi lại và xem các nước khác tiến tới của mình.

Một cựu giám đốc cấp cao của Cnooc đề xuất tập đoàn nên khai thác các mỏ dầu ở Biển Đông chung với hai tập đoàn năng lượng nhà nước – Tập đoàn Dầu khí quốc doanh và Tập đoàn Hóa dầu Trung Quốc. Ông nói rằng các công ty cũng cần xem xét dành cho các hãng nước ngoài nhiều cổ phần hơn trong các dự án khai thác dầu mỏ dưới biển.

Vị cựu giám đốc này cũng cho rằng, chính phủ Trung Quốc nên bù đắp cho các rủi ro thương mại của việc khoan dưới biển bằng cách lập một quỹ hỗ trợ các công ty dầu. Quỹ này có thể giúp đẩy nhanh các hoạt động thăm dò và khai thác dưới lòng biển sâu.

Trong khi đó, Cnooc là một tập đoàn quốc tế nhấn mạnh đến lợi nhuận và trách nhiệm với các cổ đông. Vì vậy, các lãnh đạo của tập đoàn này nói rằng bất cứ động thái nào nhằm thăm dò và khai thác các mỏ dầu dưới đáy biển đều phải chừng mực, không thể vội vàng.

Công nghiệp dầu lửa ngoài khơi của Trung Quốc ra đời ở Biển Đông, nhưng cuộc chiến Việt Nam đã buộc các thợ khoan của ngành này phải chuyển tới Biển Bột Hải ở phía bắc. Năm 1986, Cnooc trở lại các vùng biển phía nam và dựng giàn khoan đầu tiên của mình.

Cnooc làm điều đó chỉ 4 năm sau khi được thành lập. Giờ đây, nó là công ty dầu mỏ lớn thứ 3 của Trung Quốc, và 23 trong tổng số 44 dự án của tập đoàn này ở Biển Đông, Biển Bột Hải và Biển Đông Trung Quốc đang được thực hiện với sự hợp tác của các công ty nước ngoài.

Các công ty nước ngoài ký hợp đồng chia sản phẩm với Cnooc phải đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe. Công ty quy địn 51% số vốn, trong khi các công ty nước ngoài không những phải hứng toàn bộ rủi ro khai thác mà còn chỉ được hưởng không quá 49% lợi nhuận.

Mặc dù vậy, các rủi ro của Cnooc ở Biển Đông là rất lớn, vì vùng biển có tiềm năng khoan khai thác nằm cách đại lục tới 3.000km. He Wei, một nhà phân tích thuộc ngân hàng đầu tư BoCom International, nêu ra rằng những thay đổi về nhân sự, nằm trong số nhiều vấn đề khác, là rất phức tạp vì giàn khoan nằm rất xa bờ.

Công ty cũng vẫn đang phát triển công nghệ nước sâu. Phó giám đốc Kỹ thuật của Cnooc, Zeng Hengyi, cho biết khai thác ở độ sâu 300m không phải là vấn đề với công ty nhưng ở độ sâu 3.000m thì còn phải bàn.

Chính xác nơi cần khoan tìm dầu lửa ở một vùng biển rộng lớn là một câu hỏi nữa chưa có lời giải. Một số nhận định vùng biển này giàu ngang với Vịnh Ba Tư, với các trữ lượng dầu tiềm năng lên tới 30 tỷ tấn, khoảng 70% trong số đó nằm ở các khu vực nước sâu.

Nhưng một báo cáo của EIA dựa trên số liệu của Hiệp hội Địa chất Mỹ kết luận trữ lượng dầu ở Biển Đông chỉ khoảng 3,8 tỷ tấn.

Thực vậy, một nguồn tin cấp cao của Cnooc cho Caixin hay rằng các khảo sát địa chất đến nay đều không chứng minh được Biển Đông có tiềm năng năng lượng như Vịnh Ba Tư.  “Bởi vì đến nay không có giếng dầu nào được khoan nên rất khó để xác nhận chính xác có bao nhiều dầu mỏ và khí đốt ở đó”.

Sự thận trọng của Cnooc cũng liên quan tới một trải nghiệm ở vùng biển này hồi những năm 1990 mà suýt nữa làm nổ ra chiến tranh.

Vụ việc xảy ra năm 1994 khi hải quân Trung Quốc và Việt Nam đọ súng ở vùng biển gần lòng chảo Wan’an (Vạn An?) phía tây quần đảo Trường Sa và cách bờ biển Việt Nam 280km.

Hai năm trước đó, Cnoock và công ty dầu lửa Crestone trụ sở tại Mỹ đã ký một thỏa thuận chia sản phẩm nhằm khoan tìm ở khu vực vốn được cho là rất giàu dầu khí.

Việt Nam nhận chủ quyền khu vực và thách thức dự án của Trung Quốc, dẫn đến cuộc chạm trán của hải quân hai nước khi Crestone bắt đầu các hoạt động thăm dò. Cnooc rút khỏi dự án và trở nên thận trọng về các hoạt động khoan dò ở Biển Đông kể từ đó.

Người dịch: Trúc An

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

This entry was posted in english, vietnamese. Bookmark the permalink.

Leave a comment