Chết trong cảnh đói

Chết trong cảnh đói

Mai Văn Tạo

Một chiều tháng tám, cách đây 5 năm.
Một chiều mưa gió não nùng, mẹ tôi gọi vội chị tôi lấy nạn cây đẩy hai cái tử thi đang trôi bập bều gần bến.
Để tránh những thảm cảnh ấy, mẹ tôi bảo làm rào tre quanh nhà. Nhà tôi đã kê gần đến mái lá. Ban đêm hơi nước xông lên oi bức lạ thường. Mực nước càng ngày càng lên dữ dội. Chỉ có ba ngày mà chỉ một cánh đồng lúa bát ngát xanh tươi chôn vùi dưới nước.
Những thuyền đánh cá đêm như ngày, đánh cuộc số mạng với thiên nhiên. Kiếp sống như một cánh bèo con cửa bể. Những tiếng hú nhau giữa lúc giông to, khiến cho người nhà khôn xiết lo sợ
Cánh đồng không còn một cây cỏ. Tha hồ những lượn sóng hành hung. Nhiều đoạn đường bị vỡ, nước chảy mạnh ghê người. Thuyền qua lại chỉ hơ hỏng một chút là bị cuốn theo dòng nước đổ. Ngày có sóng gió thì tiếng kêu cứu của kẻ đắm thuyền trên sông không ngớt. Trên bờ cảnh đói rách không thể tả cho hết được

Hai năm, hai lần nước lụt, sóng gió vùi chôn biết bao sản nghiệp của nông dân. Không ai lấy đặng được một hột lúa ! Người ta đã góp tất cả vốn liếng, có người không có vốn phải vai mượn chu đủ làm mùa. Họ tin tưởng dầu sao trời cũng không thể hại một cách nhẫn tâm. Tuy mọi người cố gắng lắm mà mùa năm nay vẫn thấy nhiều khoảng đất trống, vì chủ nhân không có thể vai mượn vào đâu được nữa. Những chủ khoảnh đất bỏ trống ấy phần nhiều đã bỏ “xứ” ra đi đến “xứ” khác để tìm sinh kế hoặc đi để trốn nợ nần. Hay còn ở lại chịu cảnh nghèo đói lang thang…
Nhà ông phó Tuần, cũng như nhiều gia đình khác có đến tám đứa con. Đứa gái lớn gần hai mươi, suốt ngày lên núi lầy củi đem về bán đổi gạo. Thằng trai thứ hai thì ra đồng đánh cá mà mấy hôn nay trở trời, giông gió dữ quá, mẹ nó không cho nó ra khỏi nhà. Thà chịu đói tạm còn hơn bất đắc kỳ tử. Đứa gái thứ ba lẩn quẩn theo vườn hái rau, bứt lá, mỗi sáng ra chợ nó bán cùng gần được năm xu. Ở chợ về nó mua hết hai xu muối, hai xu dầu và một xu giấy cho cha nó.
Ông Tuần vả bà Tuần thì lo vun quén nương khoai mì, ban đêm phải lo canh giữ. Mì đã có củ lớn hơn ngón tay, nếu lơ đễnh gặp kẻ cắp phá thì vận mạng của gia đình càng khốn.
Nhưng ba hôm nay, mưa gió dầm dề, đứa gái lớn không thể lên núi được, lại lên cơn sốt từ hôm qua. Thằng trai thứ hai cũng bó gối bên cạnh mấy rường câu không làm gì được. Cố lắm đứa gái thứ ba vẫn được mỗi ngày năm xu. Nó lại không mua muối mua dầu nửa. Số tiền ấy phải lấy một ít gạo đem về. Một lít gạo cung cấp cho mười người ăn một ngày ! Bà Tuần bỏ một nửa vào cái nồi lớn, đỗ nước thật nhiều nấu cháo cho cả nhà húp tạm. Sáng nay con bé lại đau. Cả nhà nhao nhao khổ sở
Đã xế trưa mà không có vật gì trong bụng, hai đứa nhỏ khóc sụt sùi. Người đau thì năm thiêm thiếp không thuốc uống, phần đói, sắc mặt xanh nhợt trong rất ghê. Ngồi nhìn cảnh gai đình đang oằn oại trong cơn đau đói, bà Tuần không cầm được nước mắt. Biết làm thế nào ? Xoay trở ra sao đây, bà lặng thinh để cho đau khổ dày vò. Ông Tuần đã hai hôm không hút được một điếu thuốc lá, ngồi đan gượng mấy nếp lờ, lâu lâu lại thở dài
Ngoài trời mưa dầm dề. Trong túp nhà ấy, lạnh lùng khác lạ. Ông Tuần nhìn vợ :
– Mẹ nó bây giờ chưa cơm cháo gì cho chúng ? Đau lại đói thì nguy lắm. Mẹ nó ra đám bắp bẻ hết vào luộc cho chúng ăn tạm đi. Trồng muộn để cũng không được gì !
– Bắp chưa có hột ăn thế nào được ?
– Ấy, nó có chất ngọt trong cùi non ăn đỡ lòng được. Mẹ nó nghe tôi mà !
Thấy chồng quả quyết, bà Tuần đội cái nón lá tất tả ra nương. Ông Tuần cất mấy bếp lờ vào một xó, lấy búa đoạn một khúc cây khô để làm củi chờ vợ đem bắp về. Mưa chiều phong cảnh âm u, buồn não ruột. Bà Tuần bưng nong bắp về đến nhà thì mình mẩy ướt dầm, phải sốt rét vì trúng nước. Thật bối rối như tơ vò ! Lo đánh gió xong cho vợ, ông Tuần nhúm lửa luộc cùi bắp non và hong quần áo ước của bà Tuần.
Gần chạng vạng ông gọi cả nhà ngồi quanh nong cùi bắp, ăn một cách ngon lành với chén mắm kho. Bà Tuần vì cảm nặng không thể ăn được. Cơn sốt rét lên đến cùng độ, không một nhỏ thuốc vào lòng, đến nửa đêm bà trăn trở không yên. Cơn mệt đến từng hồi. Giữa lúc xóm làng xác xơ đói khổ, ông Tuần, không còn phương vay mượn vào đâu. Chỉ ngồi nhìn vợ đang rên la trong tay thần bệnh.
Ông buồn rầu khấn vái Phật Trời cho tai qua nạn khỏi. Bà Tuần mỗi lúc yếu dần. Nhà tối ôm không ánh sáng. Rờ trán vợ, ông ái ngại vô cùng. Tiếng bà Tuần rên mỗi lúc một nhỏ. Cả nhà điều thiêm thiếp không hay gì cả.
Gió mưa càng rầu rĩ. Bà Tuần đã hấp hối, thở gấp một hồi rồi tắt thở. Nhà không có chút lửa. Ông Tuần chùi nước mắt mấy lần, rồi lay gọi các con :
– Mẹ chúng bây mất rồi, dậy đi con ơi !
Lũ trẻ nghe gọi vùng dậy xúm quanh xác mẹ, òa lên khóc. Thật là cảnh não nùng giữa đêm mưa bão.Ông Tuần phải sang hàng xóm mượn đèn. Rồi, xung quanh người chết, những tiếng khóc cứ âm thầm nức nở dưới ngọn đèn lu mờ như sắp tắt. Đó là những tiếng than thở đau buồn của những cõi lòng khốn khổ không biết ngày mai !
Và ngày mai của gia đình ấy lả cả một tang khó, một cảnh đời không ánh sáng.
This entry was posted in vietnamese. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s