Thuyền nhân Việt Nam (1)

Thuyền nhân Việt Nam (1)


Cho dù cha tôi không bao giờ muốn dính líu đến chính trị và cũng muốn mọi người trong gia đình chúng tôi (từ các cô chú đến anh em chúng tôi) hãy lo học để có một nghề nuôi thân và phục vụ xứ sở như chính bản thân ông nhưng cuối cùng ông vẫn phải vào trại cải tạo và vĩnh viễn an nghĩ trên quê hương Việt Nam sau 5 năm tù. Tôi thật sự không hiểu nỗi tại sao một người chỉ biết đem nguồn nước ngọt trong lành đến cho người dân mà phải “cải tạo” rồi chết tức tưởi trong thân phận một Ngụy Quân – Ngụy Quyền, lôi kéo theo hậu quả dây chuyền cho đàn con của ông? Như một ly nước tràn, vì thế, sau khi ba tôi mất, tôi đã quyết định ra đi. Sau 3 lần thất bại vì bị gài, bị gạt thì chuyến vượt biên cuối cùng đã đưa tôi và 2 cậu học trò đến được Mã Lai sau 23 ngày trên biển, vừa đói khát, vừa bị bão, bị hải tặc Thái Lan cướp đến 2 lần, 5 người bạn đồng hành đã vĩnh viễn ra đi. Tôi sẽ mãi mãi nhớ ơn một chiếc tàu đánh cá Singapore đã cứu vớt chiếc ghe chúng tôi từ vùng biển Thái – Mã để đưa chúng tôi về tận bờ biển làng Endau trước khi Hội Hồng Nguyệt Mã đưa chúng tôi từ Johor về Trenganu rồi đến Pulau-Bidong vào một chiều mưa bão tháng 11 năm 1986. Từ ngày đặt chân lên đất liền, tôi đã tự nguyện với lòng mình là từ nay tôi sẽ đền đáp Trời Phật và Ba tôi linh thiêng đã phù hộ cho tôi được sống sót sau 23 ngày hải hùng, đói khát trên biển Đông – đó cũng chính là động lực thúc đẩy tôi phải cố gắng phấn đấu để học hỏi, sinh tồn và vươn lên trên xứ người, đã tham gia nhiều công việc thiện nguyện & xã hội như một bổn phận, một sự đền ơn, không hề vì một tham vọng hay là một sự tự tư tự lợi cho bản thân! Suốt hơn 3 tháng ở Pulau-Bidong cộng thêm 2 tháng ở Sungei-Besi rồi sau đó gần 6 tháng ở Bataan, Philippines, tôi cũng đã học thêm nhiều bài học cho trường đời của mình. Thành thật mà nói cuộc sống ở Pulau-Bidong thật phức tạp và người tị nạn đã trải qua những khó khăn về vật chất lẫn tinh thần mà khó có ai ngờ trước được. Trong thời gian sống ở “ngưỡng cửa tự do” mà tôi không biết nên gọi là “địa ngục” hay “thiên đàng” này, tôi đã may mắn tìm thấy chút ít tình người rất quý báu ở những người bạn mới quen biết trong trại tị nạn này, như Ẩn (hiện sống ở Kingston, Canada), chú Phan Xuân Hiệp, 2 cô bé Huyền – Thư (Mỹ), Cửu Thơm và Hoàng Phượng (Úc). Tôi sẽ không bao giờ quên những buổi đi dạy ở trường Anh Văn khu B, trường Pháp Văn khu F, những buổi đi đốn củi trên núi rồi xuống tắm suối hay tắm biển ở khu D, tối đến rủ nhau lên chùa Từ Bi cúng Phật, cầu nguyện cho những người bạn đã bỏ mình trên biển sớm siêu thoát. Tôi đã cố gắng làm nhiều công việc thiện nguyện bận rộn suốt ngày để tránh bớt những phức tạp của một trại tị nạn, đồng thời cũng muốn giúp đồng bào tôi như là một việc thiện nhằm bù lại cái Ơn Trời Phật đã phù hộ cho tôi được sống còn sau 23 ngày lênh đênh trên biển với biết bao nguy hiểm, đói khát… Đến khi có danh sách rời đảo, tôi vừa vui mừng, vừa bùi ngùi từ biệt những người bạn tốt vừa mới quen trên đảo nhưng thân thiết như anh em ruột thịt. Nghe bài “Biển Nhớ” và “Nghìn Trùng Xa Cách” mà chúng tôi không cầm được những giọt nước mắt ! Trong thời gian ở Sungei-Besi, tôi vẫn phải lên chùa, sinh hoạt hướng đạo hay đi dạy để xa lánh những phức tạp ở dãy long house mà tôi bị xếp vào ở chung. Khi đến Bataan, tôi cũng đã phải di chuyển từ vùng 7 qua vùng 9 rồi về vùng 8 với anh Hiền (cựu phi công, có lẽ đã về California?) trước khi đi định cư ở Mỹ. Những ngày ở trại tị nạn, tôi đã thấy rõ hậu quả của một xã hội “bế môn tỏa cảng”: Khi người ta vượt thoát khỏi “nhà tù lớn” Việt Nam để đến một nơi tự do hơn thì lẽ ra người ta phải biết quý tự do, phải biết thương nhau hơn nhưng tôi chỉ thấy người ta lại tự do buông thả, ăn chơi sa ngã, sẳn sàng hại nhau để rồi không ít người phải vào tù, vào bệnh viện, thậm chí vĩnh viễn ở lại Phi. Ở các trại tị nạn còn có những chuyện buồn nôn, chẳng hạn: cùng là dân “tị nạn” nhưng một anh cựu sĩ quan lại có thể hà hiếp, ăn chận khẩu phần của một anh tị nạn khác chỉ vì anh khéo nịnh bợ một tên cảnh sát Mã Lai hay Phi. Một anh cùng nằm tù với tôi dạo nào vốn bị bạn tù ghét vô cùng vì luôn khúm núm trước tên quản giáo đáng tuổi con cháu của anh, lên ghe vượt biên thì nói láo là sĩ quan hải quân từng làm hạm trưởng nhưng lại chẳng biết sử dụng hải bàn, hải đồ mà cũng chẳng biết lái tàu, tiếng Anh cũng không biết nhưng khi đến trại tị nạn và được phong làm “trưởng ban trật tự” rồi “trưởng trại” thì anh ta cứ như một cấp chỉ huy chống Cộng số 1, tuyên bố nảy lửa …nhưng lai cứ phải “chôm” ít thực phẩm của đồng bào đem về nhà để nấu cơm và chìu chuộng cô vợ bé, mặc kệ 2 đứa con lăn lóc. Cô vợ bé vốn là ca-ve bị hải tặc Thái hãm hiếp mấy trận rồi lại cặp bồ với cảnh sát Mã nhưng vẫn còn nỏn nà đã khiến ông mê mệt và ông mới cặp khi ông lên làm “chúa đảo” vì xa vợ đã lâu mà chưa được đi định cư. Sau này, khi đến Mỹ, tôi mới biết được anh ta còn bê bối hơn tôi tưởng khi anh nhảy ra sinh hoạt cộng đồng với nhiều trò bát nháo. Những chuyện “cười ra nước mắt” lẽ ra nên viết thành truyện dài nhiều tập mới tạm coi là đủ về trại tị nạn. Một lần nữa, tôi nghiệm được rằng 12 năm ở trường học đã hình thành một con người khó có thể hội nhập vào một môi trường khác biệt nên tôi đâm ra khó khăn, xung khắc và trở nên dễ bị cô lập với loại trường đời như vậy. Tôi không biết là mình nên tự trách bản thân đã không chịu “linh động” thay đổi để hòa đồng với mọi người, hay là trách trường học đã không dạy cho tôi rất nhiều điều cần thiết phải biết để thích nghi với trường đời đầy cạm bẫy, dối trá, thử thách rất khắc nghiệt này. Cuối cùng, tôi cũng đến Mỹ với thân phận tị nạn – một loại di dân hợp pháp và có trợ cấp ban đầu. Sau 23 ngày khủng khiếp lênh đênh trên biển mà tôi vẫn còn sống sót, trải qua những ngày căng thẳng trong trại tị nạn ở Mã Lai và Phi Luật Tân, khi đặt chân xuống phi trường LAX, tôi mới thấy được cái giá quá đắt của sự Tự Do, mới tin là có số mệnh, biết ăn chay và niệm Phật, không còn tính chủ quan tự mãn mà thật sự muốn sám hối và cố gắng thay đổi con người mình sao cho có thể thích nghi với môi trường mới một cách tốt đẹp nhất cho bản thân, đồng thời có thể giúp đỡ phần nào cho Mẹ & các em tôi còn kẹt lại ở Việt Nam, các bạn còn kẹt lại ở trại tị nạn và mong rằng sẽ có thể vào được đại học như bấy lâu nay vẫn mơ ước. Tôi đến phi trường LAX vào trưa ngày14 tháng 9 năm 1997; sau khi làm thủ tục nhập cảnh thì tôi lên xe shuttle để về Orange County, nơi có người chú ruột của tôi sẽ đón. Tới phi trường John Wayne rồi đợi trên 2 giờ đồng hồ mới thấy chú tôi đến đón, tôi lại một phen lo sợ, hồi hộp. Chú đưa tôi về khu Bolsa để ăn phở. Sau gần 1 năm, tôi mới được thưởng thức lại mùi vị quen thuộc của một tô phở nên vừa ăn, vừa cảm thấy sung sướng làm sao khi đã đến “bến bờ tự do” thật sự. Hoa Kỳ- từ nay sẽ là quê hương thứ hai của tôi. Bấy giờ tôi chỉ còn 2 bàn tay trắng và 2 bộ quần áo cùng với vài giấy tờ tùy thân, chẳng có đồng xu dính túi. Hôm sau, tôi đi gặp World Relief để làm thủ tục rồi sau đó đến văn phòng tìm việc và cũng là trường dạy ESL. Khổ nỗi, tôi lại ngây thơ khai thật về vốn liếng Anh Văn ít ỏi nên chỉ lãnh vỏn vẹn $250.00 USD rồi phải lê gót đi tìm việc ngay chứ không được vừa đi học ESL., vừa ăn trợ cấp như đa số tị nạn khác. Chú tôi mắng tôi một trận về cái tội ngu này. Buổi sáng đầu tiên đi xin việc, tôi đã phải thức dậy từ 4 giờ sáng, chuẩn bị kỹ lưỡng theo như văn phòng tìm việc đã dặn dò rồi bước ra trạm xe bus cách nhà chừng nửa dặm. Lần đầu tiên đi xe bus, tôi lại gặp một tài xế Mỹ đen nói khó nghe mà ông ấy cũng tỏ ra khó chịu khi phải cố gắng để hiểu được điều tôi muốn nói. Cuối cùng tôi cũng đến được nơi tôi phải đến: một hãng chuyên lo thủ tục xuất nhập cảng chỉ cách nhà tôi ở khoảng 5 miles. Công việc làm đơn giản nên lương cũng thấp. Do đó, chú tôi khuyên tôi bỏ job để theo chú học nghề xây dựng (construction). Tôi làm theo lời chú nhưng sau 3 năm, tôi quyết định đi học cho xong để có một mảnh bằng đại học vì rõ ràng là tôi không thích hợp với công việc thầu xây cất. Muốn vậy, tôi phải kiếm một job khác đủ nuôi sống bản thân, trả tiền nhà, tiền xăng và xe, tiền học.
Tôi là một “thuyền nhân – tị nạn” đã từng may mắn sống sót sau 23 ngày lênh đênh trên biển Đông, đã nếm qua “mùi vị” ở trại tị nạn nên đó sẽ là những kỷ niệm khó quên trong đời mình và chắc chắn sẽ phải ghi lại để con cháu sau này hiểu được phần nào cái giá mà tôi phải trả cho tự do và cuộc sống hôm nay. Đọc những bài viết hay xem vài phim nói về “thuyền nhân”, bất giác hình ảnh ngày xưa lại hiện về… Xin thắp một nén nhang cầu nguyện cho những người không may mắn trên đường vượt biển. Thuyền nhân Việt Nam là nhân chứng cho một giai đoạn đen tối của lịch sử với những kỷ niệm vui – buồn, dẫu phải bỏ nước ra đi nhưng mãi mãi không quên quê hương… Ngày rời Cà Mau, tôi nghĩ là “một đi không trở lại”… nhưng thật không ngờ là tôi đã trở lại VN và những nơi đã đón nhận tôi như một “thuyền nhân Việt Nam”. Cám ơn những người tốt bụng Singapore, Malaysia, Phiippines và Hoa Kỳ, cám ơn cao uỷ LHQ và những thiện nguyện viên ở các trại tị nạn, cám ơn những ai đã từng cứu giúp chúng tôi.
ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN tại Bolsa, Nam California

Sau nhiều năm tham khảo ý kiến và tiếp nhận sự hỗ trợ tận tình của quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, các hội đoàn tại Nam California, các cơ quan truyền thông và đồng hương, cũng như đã vượt qua nhiều khó khăn với quyết tâm thực hiện một công trình tâm linh và lịch sử nay đã đạt thành tâm nguyện chung của người Việt hải ngoại, Ủy Ban Thực Hiện Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân phối hợp với Ban Giám Ðốc Westminster Memorial Park tổ chức lễ khánh thành tượng đài này.
Thời gian: 1 PM, Thứ Bảy, 25 Tháng Tư, 2009
Ðịa điểm: Trong khuôn viên Nghĩa Trang Westminster (góc Bolsa và Hoover)
Chúng tôi trân trọng thông báo và kính mời tất cả quý vị đồng hương tham dự để tưởng niệm và dâng hương đến chư hương linh thuyền nhân và bộ nhân đã tử nạn trên đường đi tìm tự do.
Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam hình thành với mục đích tưởng niệm hàng trăm ngàn người Việt đã tử nạn trên đường tìm tự do và nhân quyền sau Tháng Tư, 1975.
Tượng đài cũng nhằm lưu truyền đến những thế hệ mai sau nguyên nhân sâu xa về sự hiện hữu của người Việt tại Hoa Kỳ và các quốc gia trên khắp thế giới.
TM. Ủy Ban Thực Hiện Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam,

Thái Tú Hạp, Việt Dzũng và Bác Sĩ Lê Hồng Sơn
Mọi chi tiết xin liên lạc Minh Phượng

* Sinh Hoạt Tưởng Niệm Quốc Hận 30/4/2009 Nam Cali
Ban Tổ Chức Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận 30/04/2009 đã phổ biến thông báo về lịch trình tổ chức các lễ tưởng niệm 30/04/2009 tại miền Nam California và mời đồng hương tham dự các buổi lễ này. Nội dung lịch trình các buổi lễ tưởng niệm như sau:
1/- Thứ Bảy ngày 4/4/09 từ 10:00g sáng tại Thư Viện Việt Nam số 10872 Westminster Ave., # 214 & 215, TP Garden Grove. Khai mạc Chuỗi Sinh Hoạt Lễ Tưởng Niệm Tháng Tư Đen năm 2009.Phát động chiến dịch Gắn Nơ Đen.(Ban Tổ chức. L/L: Lý vĩnh Phong,(626) 679-8167).
2/- Thứ Bảy ngày 4/4/09 từ 10:30g sá ng đến 3:00g trưa tại Thư Viện Việt Nam 10872 Westminster Ave., # 214 & 215, TP Garden Grove.Hội Luận Về Việc Khiếu Kiện Cộng Sản Việt Nam Vi Phạm Nhân Quyền có hệ thống và tổ chức.(Cộng Đồng Việt Nam-Nam California, Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo VN và Uỷ Ban Quốc Tế Yểm Trợ Phong Trào Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam tổ chức.L/L: Phạm Trần Anh, (714)603-9291).
3/- Chủ nhât ngày 5/4/09, từ 10:00g sáng đến 9:00g tối, Đại Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương, tại Vườn Hồng Thị xã Westminster. Phổ biến tài liệu về Chuỗi Sinh hoạt Lễ Tưởng Niệm Tháng Tư Đen năm 2009.Tiếp tục công tác gắn Nơ Đen.(Hội Đền Hùng Hải ngoại tổ chức. L/L: Nguyễn Xuân Nghĩa, (714)423-8888)
4/- Thứ Tư ngày 15/4/09 từ 10:00g sáng tại Vp Nghị sĩ Lou Correa số 2323 N. Broadway Blvd, # 245, Santa Ana, CA 92706.Tổng Kết & Chấm Thi Các Bài Thi Viết Văn về Ý nghĩa Ngày Quốc Hận và Tháng Tư Đen.(Đoàn Thanh niên Phan Bội Châu tổ chức và Thượng Nghị sĩ Lou Correa bảo trợ.L/L:: Cô Trần Mỹ Dung (714)251-0518).
5/- Thứ Bảy ngày 18/4/09, từ 10:30g sáng đến 3:00g trưa tại Cây Xăng Mobile (Brookhust & Warner, FV), Ngày Rửa Xe Gây Quỹ Yểm Trợ Các Chíến Sĩ Dân Chủ Quốc Nội.(Đoàn Thanh niên Phan bội Châu phụ trách. L/L: Lê thanh Vân, (720)934-3914).
6/- Thứ Bảy ngày 18/4/09 từ 12:30g trưa đến 4:30 chiều tại Đền thờ Đức Tả Quân Lê văn Duyệt số 15361 Brookhurst St., Westminster, CA 92683.Khai mạc Tuần lễ 30/04: Hội Thảo & Chiếu Phim & Văn Nghệ. (Hội Tả Quân Lê văn Duyệt và Hội Đồng Hương Gia Định tổ chức. L/L Gs Nguyễn Thanh Liêm (714)721-0878).
7/- Chủ Nhật ngày 19/4/09 từ 1:30g trưa đến 4:30g chiều tại Đền thờ Đức Tả Quân Lê văn Duyệt số 15361 Brookhurst St., Westminster, CA 92683.Tuần Lễ 30/04: Hội Thảo & Văn Nghe.ä (Hội Tả Quân Lê văn Duyệt và Hội Đồng Hương Gia Định tổ chức. L/L Gs Nguyễn Thanh Liêm (714)721-0878).
8/- Thứ Hai ngày 20/4/09, lúc 10:00g sáng tại Đại Học Cộng đồng Cypress, số 9200 Valley View Blvd, TP Cypress. Khai Mạc Cuộc Triển Lãm Hình Ảnh Về Lịch Sử và Sinh Hoạt Của Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn và Tháng 4 Đen từ 20/4/ đến 1/05/2009.(Cộng Đồng VN-Nam California phụ trách.L/L: Nguyễn Tấn Lạc (714) 261-6490)
9/- Thứ Sáu ngày 24/4/09, lúc 6:00g chiều tại Bãi Cỏ đối diện Thương xá Phước Lộc Thọ/Little Saigon. Lễ Xuất Phát Chiến Dịch Cờ Vàng (Treo Quốc kỳ VNCH từ 25/4 đến 3/5/09).(BTC. L/L: Ngô chí Thiềng, (714) 414-6626).
10/- Thứ Bảy ngày 25/4/09, lúc 11:00g sáng tại Bãi Cỏ đối diện Thương xá Phước Lộc Thọ/Little Saigon. Khai mạc Triển lãm Bức Tường Đen Tưởng Niệm Tháng Tư Đen. (từ 25/4 đến 30/4/09).(BTC. L/L: Bùi Quang Huy, (714)235-360).
11/- Thứ Bảy ngày 25/4/09, lúc 1:00g trưa tại Khu vực Nghĩa trang Vườn Vĩnh Cửu – Peek Familly.https://i0.wp.com/www.nuocviet.org/article_graphics/daituongniem_westminster.jpgLễ Khánh thành Tượng Đài Thuyền Nhân VN.(Ủy Ban Thực hiện Đài Tưỡng niệm Thuyền nhân phụ trách. L/L: Bà Ái Cầm, 626-589-9242).
12/- Thứ Bảy ngày 25/4/09 từ 1:30g trưa đến 4g chiều tại Đền thờ Đức Tả Quân Lê văn Duyệt số 15361 Brookhurst St., Westminster, CA 92683.Tuần lễ 30/04: Hội Thảo & Văn Nghệ. (Hội Tả Quân Lê văn Duyệt và Hội Đồng Hương Gia Định tổ chức. L/L Gs Nguyễn Thanh Liêm (714)721-0878).
13/- Thứ Bảy ngày 25/4/09, lúc 3:00g trưa tại Hội Trường Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên, 8200 Westminster Blvd, TP Westminster.Hội Thảo của Giới Trẻ về Ý Nghĩa Lễ Tưởng Niệm ngày Quốc Hận 30/4.(Đoàn Thanh niên Phan bội Châu tổ chức với các Đoàn thể Trẻ khác. Tổng hội Sinh viên VN Miền Nam Cali bảo trợ. L/L: Lê Thanh Vân, 720- 934-3914).
14/- Thứ Bảy ngày 25/4/09, lúc 6:30g chiều tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, Freedom Park, American Way, TP Westmister.Đêm Tưởng Niệm Ngày Quốc Hận 30/4 và Văn Nghệ Đấu Tranh.(BTC. L/L: Lý vĩnh Phong, (626) 679-8167).
15/- Thứ Tư ngày 29/4/09, lúc 1:30g trưa, tại Đại Học Cộng Đồng Cypress College, 9200 Valley View Blvd, Th/Phố Cypress.Khai Mạc 2 Buổi Hội Luận Tìm Hiểu về Tháng Tư Đen & CĐVN tại Hoa Kỳ.Hội Luận từ 2:30 trưa đến 5:00g chiều.Chiếu phim “Soldiers in Our Eyes”: từ 5:15g chiều đến 7:15g chiều.(Ban Đại Diện Cộng Đồng Việt Nam – Nam California phụ trách. L/L: Đỗ Vinh, (714)862-4745)
16/- Thứ Năm ngày 30/4/09, lúc 12:00g trưa tại Bãi Cỏ đối diện Thương xá Phước Lộc Thọ/Little Saigon. Chào Cờ & Lễ Thắp Hương Tưởng Niệm Các Chiến Sĩ và Đồng Bào Đã Hy Sinh Trong Tháng Tư Đen và ngày 30/4/1975.(BTC. L/L: Ô. Nguyễn Tấn Lạc, (714) 261-6490).
17/- Thứ Tư ngày 29/4/09, lúc 1:30g trưa, tại Đại Học Cộng Đồng Cypress College, 9200 Valley View Blvd, Th/Phố Cypress.Buổi Hội Luận thứ hai Tìm Hiểu về Tháng Tư Đen & CĐVN tại Hoa Kỳ.Hội Luận từ 2:30 trưa đến 5:00g chiều.
Chiếu phim Vượt Sóng: từ 5:15g chiều đến 7:15 tối.(Ban Đại Diện Cộng Đồng Việt Nam – Nam California, phụ trách. L/L: Đỗ Vinh, (714)862-4745)
18/- Thứ Năm ngày 30/4/09, lúc 7:00g chiều tại Bãi Cỏ đối diện Thương xá Phước Lộc Thọ/Little Saigon Chấm Dứt Triển Lãm Bức Tường Đen,Bế Mạc Chuỗi Sinh Hoạt Lễ Tưởng Niệm Ngày Quốc Hận 30/4 năm 2009.Thay mặt Ban Tổ Chức:Trưởng Ban: Lý Vĩnh Phong (Tổng Hội Sinh Viên). Đồng Phó Trưởng Ban: Nguyễn Văn Cừ (CĐ Người Việt LA); Ngô Chí Thiềng (CĐVN Nam Cali); Phan Tấn Ngưu (LHCCS); Phạm Trần Anh ( Hội A/H TNCT và Tôn Giáo); Lê Thanh Vân (TN Phan Bội Châu).Có thêm hàng chục hội đoàn khác cùng đứng trong ban tổ chức hay ban yểm trợ.

MỘT VÀI Ý KIẾN VỀ SƠ ĐỒ ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM
Bài của Bs Nguyễn Xuân Quang
Chúng tôi rất hân hạnh và rất xúc động được tham dự buổi Lễ Động Thổ Khởi Công Xây Dựng Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam đầy ý nghĩa tại khu nghĩa trang Peek Family tại Little Saigon ngày Thứ Bảy 26-04-2008.Trong tiết mục giải thích về Sơ Đồ do Kiến Trúc Sư của Ban Giám Đốc Westminster Memorial Park thực hiện, chúng tôi được nghe Giáo Sư Vân Bằng giải thích hình thái “số 8” là “Lucky” và những “Alpha” là “hằng cửu”. Chúng tôi xin góp vài ý kiến thô thiển của cá nhân, mong quý vị thức giả và đồng hương nếu có điều gì cần bổ túc chúng tôi sẵn sàng ghi nhận và đa tạ.* Số 8 là số luckyGiáo sư Vân Bằng đã giải thích những hình thái do hai đường “ngoằn ngoèo” tạo ra thành những hình nhỏ có hình số 8 và cho rằng số 8 là số “lucky”. Theo tôi đây là cách giải thích theo duy tục của người Trung Hoa. Số 8 người Trung Hoa phát âm là “pạc” (Hán Việt bát) gần như đồng âm với “bạc” (kim loại mầu trắng, tiền, tiền bạc) (chị Ái Cầm biết rõ hơn ai hết). Vì thế mà dân gian Trung Hoa cho pạc là bạc là số hên (cũng như người Trung Hoa và Nhật Bản rất kỵ số 4 vì số bốn phát âm là tứ gần như đồng âm với Hán Việt tử là chết. Số 4 coi như là số chết). Nhưng hiểu theo hên xui là hiểu theo nghĩa duy tục có bạc có tiền, bài bạc. Tôi không nghĩ nghĩa duy tục này thích hợp với cái linh thiêng và cao đẹp của Tượng Đài. Người Chết nhất là chết cho một ý tưởng cao đẹp, chết vì hai chữ Tự Do nhất định không phải vì tiền bạc. Chúng ta phải hiểu theo nghĩa “tâm linh” và “lịch sử”. Ta thấy rõ những hình thái ở đây thật sự có hình con số 8 nằm (∞). Đây chính là một hình ngữ nòng nọc (âm dương) sau này được dùng làm dấu vô cực trong toán học. Hình số 8 nằm ở đây mang nghĩa vô cùng, vô tận, hằng cửu, vĩnh cửu. Số 8 nằm này là do hai chữ viết nòng nọc OO dính vào nhau thành hình sóng cuộn kín. Hai OO là hai hào âm tức thái âm, có một nghĩa là Khôn âm, Nước. Nước có một nghĩa là sinh tạo (Nước là Mẹ của sự Sống). Thái âm nước ở đây dính vào nhau thành hình sóng cuộn kín, chuyển động vô cùng vô tận, đi đi về về muôn đời vì thế mới có nghĩa là hằng cửu, vĩnh cửu, sinh tử, tử sinh, sinh tạo, tái sinh đời đời và trong toán học mới có nghĩa là vô cực. Ngoài ra, theo Dịch số 8 là số Khôn tầng 2 trong khi số 0 là Khôn tầng 1, tạo hóa (Dịch có 64 quẻ gồm có 8 chuỗi hay 8 tầng. Mỗi chuỗi, mỗi tầng có 8 quẻ, nên các số 0, 8, 16, 24, 32, 40, 48, 56, 64 đều là số Khôn có cùng một trị số “Khôn” chỉ khác nhau ở vị trí, ở tầng nào. Ví dụ, trong Nhiệt Học ta thấy rất rõ số Khôn 0 = Khôn 32 tức 0 độ Celsius = 32 độ Farenheit). Số 8 là số Khôn có một khuôn mặt là Hư Vô (của số 0). Con người đến từ Hư Vô và khi chết trở về với Hư Vô, về nơi Vĩnh Hằng hay để được tái sinh. Như thế con số 8 ở Tượng Đài Thuyền Nhân phải được hiểu theo nghĩa “tâm linh” này hơn là hiểu theo nghĩa duy tục “lucky”.Những con số tám nằm mang nghĩa hằng cửu sinh tạo, tái sinh này cũng xác nhận hai hình uốn khúc “ngoằn ngoèo” lớn (tạo ra những hình số 8 nằm nhỏ) là hai hình gợn sóng, hai hình sóng. Sóng biển cũng nhấp nhô vô cùng vô tận. Hai hình sóng nhấp nhô, lên xuống theo hai chiều âm dương tạo thành hình sóng cuộn, quyện vào nhau mang thêm nghĩa sinh động, sinh tạo. Vì thế hai hình sóng lớn này cũng mang nghĩa như những hình sóng nhỏ số 8 nằm là hằng cửu, vĩnh cửu, sinh tử, tử sinh, sinh tạo, tái sinh đời đời. Những hình sóng cuộn lớn và nhỏ trong thực tế là những hình sóng biển nhấp nhô rất thích hợp và đầy ý nghĩa với Thuyền Nhân. Thiết kế hình sóng cuộn nhấp nhô này cho Tượng Đài Thuyền Nhân thật tuyệt vời.


* Chữ alpha
Giáo sư Vân Bằng gọi những phần của hai hình sóng cuộn này là hình alpha và cho nó có nghĩa là hằng cửu, vĩnh cửu. Alpha là mẫu tự đầu tiên a của “alphabet” (alpha và beta) trong Hy Lạp ngữ. Alpha vì thế thường có một nghĩa là khởi đầu, giai đoạn đầu như ta thấy lễ gắn alpha cho các tân sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Đà Lạt, Thủ Đức. Alpha là một mẫu tự hở không kín nên không thể có nghĩa là vĩnh cửu, hằng cửu được.


* Tám cây cọ
Số 8 cây cọ cũng có cùng nghĩa là hư vô, hằng cửu, tái sinh thích hợp với người chết hơn là số 9. Số 9 có một nghĩa là “chín nút” trong bài bạc. Tôi nghĩ nên giữ 8 cây cọ thích hợp hơn là đổi qua thành 9 cây.


TƯỢNG ĐÀI TRI ÂN NƯỚC ÚC và TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM tại Victoria đã được long trọng khánh thành vào lúc 10g30 sáng ngày Thứ Bảy 21-6-2008 tại góc đường Farnsworth Ave & Meyers Rd, Footscray với sự tham dự của nhiều quan khách Úc – Việt.
5 công trình của DỰ ÁN 2010
DỰ ÁN 2010 của Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam gồm 5 công trình chấm dứt vào năm 2010:

sưu tập TÀI LIỆU VƯỢT BIÊN:
Mục đích:

– Sưu tập: tài liệu, hình, phim, di vật, … liên quan đến di tích thuyền nhân trong toàn khu vực Đông Nam Á;
– Phát động và quảng cáo ở các nơi trên thế giới;
– Thực hiện Bảo tàng viện Thuyền nhân (Virtual VBP Museum, VBP E-Museum)
– Chuyển tài liệu đến các trung tâm Lưu trữ Văn khố; chia xẻ tài liệu với các Tổ chức có cùng mục đích trong Cộng Đồng Việt Nam trên thế giới trên nguyên tắc giúp đỡ hỗ tương.
Danh sách VƯỢT BIÊN TỬ NẠN và MẤT TÍCH
Mục đích:

– Tìm hiểu về sự kiện dẫn đến việc thất tung trên đường vượt biên vượt biển;
– Ghi lại danh tánh những người thất tung (tử nạn hay mất tích);
– Lưu danh sách tại một số địa điểm công cộng: đài tưởng niệm, chùa, nhà thờ, các trung tâm Cộng đồng Việt nam hải ngoại … để lưu trữ cùng tổ chức Cầu nguyện, Cầu siêu và Cầu Bình an cho những người thất tung.
BẢO TỒN DI TÍCH TỴ NẠN:
Mục đích:

a- Nghiên cứu, cổ động, hỗ trợ và phát động phong trào xây dựng Đài Tri Ân và Tưởng niệm Thuyền Nhân để ghi nhận sự giúp đỡ của các quốc gia tạm dung, các quốc gia định cư, các tổ chức thiện nguyện và Liên Hiệp Quốc đã tích cực giúp đỡ người Việt tỵ nạn.
b- Nghiên cứu, tìm kiếm và bảo tồn di tích người Việt tỵ nạn tại các quốc tạm dung, mồ mả nghĩa trang thuyền nhân, di tích các trại tỵ nạn, thu thập bảo tồn kỷ vật thuyền nhân, kỷ vật tỵ nạn …
c- Học tập và tham dự các khóa huấn luyện chuyên môn về văn khố và bảo trì di tích.
video LỊCH SỬ VƯỢT BIÊN TRUYỀN KHẨU:
Mục đích:

– Thực hiện phỏng vấn thu hình, thu âm những nhân chứng sống có nhiều tình tiết;
– Bảo đảm tính trung thật và bảo mật cá nhân và theo đúng các quy định quốc tế về Oral History. Hồ sơ sẽ được chuyển cho các trung tâm Văn Khố làm tư liệu lịch sử.
ghi lại SỰ THẬT HÀNH TRÌNH VƯỢT BIÊN:
Mục đích:

– Mọi người đều có thể tham gia.
– Thể loai: Không hạn chế. Truyện, hồi ký, thơ, ghi âm vào băng, nhật ký, tạp ghi, băng hình, trích đoạn báo hay tạp chí, … đều được hoan nghênh.
– Nội dung:

+ Ghi lại những sự thật lịch sử quanh diễn biến vượt biên vượt biển xảy ra vào ¼ thế kỷ cuối cùng vừa qua như: sự thật lúc chuẩn bị vượt biên, sự thật trên đường vượt biên, sự thật tại trại tỵ nạn, sự thật trong những ngày đầu định cư.
+ Ghi lại diễn biến, tổ chức, mô hình các trại tỵ nạn và sinh hoạt người tỵ nạn ở các trại;
+ Ghi lại những mẩu chuyện tiêu biểu cho biến cố vượt biên vượt biển vừa qua làm tài liệu tham khảo cho các thế hệ mai sau.
CÁC CÔNG TÁC KHÁC SẼ THỰC HIỆN
sẽ thực hiện:

– trùng tu nghĩa trang Bidong (trên 200 mộ), Galang (trên 520 mộ), Bataan (200 mộ)
– tìm kiếm mộ phần thuyền nhân tại nghĩa trang Khu G Bidong, tại đảo Pulau Tengah (Malaysia), tại đảo Kuku (Indonesia).
– Sưu tập hình ảnh, tài liệu, phim, di vật, tin tức, dữ kiện liên quan đến thuyền nhân trên quy mô toàn thế giới để đưa vào hệ thống Văn Khố quốc tế.
– Nỗ lực thực hiện Viện bảo tàng Thuyền Nhân Việt Nam (Virtual VBP Museum)
– Kêu gọi mọi nơi thực hiện Tượng đài Tri ân và Tưởng Niệm (Vietnamese Boat People Munument of Gratitude and Commemoration).
Phim: Thảm cảnh Bolinao 52
Nhân vật thật: Trịnh Thanh Tùng, William Cloonan
Ðạo diễn: Nguyễn Ðức
Bài: Nguyễngọchấn.
Hình: Nguyễn Ðức
Tưởng niệm quốc hận 30 Tháng Tư năm nay, kính mời quí đồng hương hãy đi xem cuốn phim Bolinao 52 được trình chiếu tại Bowers Museum, 2002 N. Main Street, Santa Ana, CA 92706. Chủ Nhật ngày 26 Tháng Tư, từ 1 giờ chiều đến 4 giờ chiều.
Ngoài phần chiếu cuốn phim thảm cảnh Bolinao 52, đạo diễn Nguyễn Ðức và ban tổ chức sẽ có buổi lễ vinh danh tạ ơn ông Corwin Al Bell, nguyên hạm trưởng USS Morton, Hải Quân Hoa Kỳ, đã có công cứu vớt hàng trăm thuyền nhân Việt Nam trên biển Ðông.
Ông Corwin Bell là một trong số những hạm trưởng của Hải Quân Hoa Kỳ và thế giới, đã không những thi hành đúng bổn phận của ngành hàng hải, cứu vớt những kẻ gặp nạn trên biển cả, mà còn thể hiện được tình nhân đạo giữa con người với nhau. Ngoài việc được vinh danh công trạng, ông Bell cũng đã tạo được mối liên lạc mật thiết, đậm tình với những nạn nhân đã được ông cứu sống, nay đã thành đạt và vẫn ghi nhớ ơn cứu tử của ông.
Tuy vậy trong cuộc vượt biển tìm tự do của người Việt Nam, không nhất thiết mọi vị chỉ huy hàng hải đều thi hành mệnh lệnh nhân đạo một cách đúng đắn mà rất nhiều người đã ngoảnh mặt làm ngơ để cho hàng trăm ngàn người Việt Nam bị vùi thây trên biển cả. Ðó chính là động lực cho sự hình thành cuốn phim “Bolinao 52,” thảm kịch trên biển Ðông của đạo diễn Nguyễn Ðức.
https://i1.wp.com/static.tienve.org/home/literature/images/bolinao.jpgBolinao 52 của Nguyễn Ðức
Một phim tài liệu về chuyện người tị nạn được kể trung thực nhất bằng những người thật, vật thật, làm cho người xem cảm nhận được những gian khó của người Việt Nam trên đường tìm tự do. Nguyễn Ðức đã soạn một nền tảng với nhiều vai trò. Anh làm họa sĩ cảnh trí, nhân viên đoàn nghiên cứu y tế, nhà sản xuất kỹ thuật truyền hình. Ðức có bằng Truyền Thông Ðại Chúng (Mass Communications) từ đại học UC Berkeley. Với nhiều năm kinh nghiệm làm phim, anh muốn kể lại câu chuyện đầy máu và nước mắt qua cuốn phim tài liệu này để đưa ra ánh sáng một chuyện dài của thuyền nhân Việt Nam từ góc nhìn của những người sống sót.
Cuốn phim tài liệu đến gần như là tình cờ.
Nguyễn Ðức sinh ra trong thời chiến tranh Việt Nam, đến Mỹ bằng đường biển lúc 15 tuổi. Lúc nào anh cũng có một liên hệ cá nhân mật thiết với biển cả. Anh và gia đình trôi dạt trên biển bốn ngày trước khi được một chiếc phi cơ tuần tra Mỹ phát hiện, và sau đó được vớt lên chiến hạm USS Long Beach. Ngay trong lúc lênh đênh trên biển ở tuổi 15, Ðức đã tự nhủ sẽ kể lại chuyện này nếu sống sót. Thoạt đầu anh chỉ định kể lại chuyện vượt biển của riêng mình, nhưng cuối cùng hoàn cảnh đẩy đưa anh vào thế giới thuyền nhân Việt Nam có hàng ngàn chuyện khổ đau gấp trăm gấp ngàn lần chuyến đi của anh. Ðức đã dốc hết tâm tư vào việc làm để đời này.
Ðường vào cõi chết
Thật tình cờ Ðức biết được câu chuyện Bolinao 52. Anh thấy lóe lên một tia sáng khi xem ký sự truyền hình của Diane Sawyer trong chương trình “60 Minutes,” nói về phiên tòa án quân sự của một hạm trưởng Hải Quân Hoa Kỳ, đã bỏ rơi những người tị nạn trên chiếc thuyền mong manh giữa biển, mà nạn nhân đã chết hơn một nửa. Năm 1988, chiến hạm mang tên USS Dubuque, hạm trưởng là Alexander G. Balian với 25 năm kinh nghiệm, bị tước quyền chỉ huy vì đã làm mất danh dự của Hải Quân Hoa Kỳ, “bỏ rơi người gặp nạn trên biển dù họ là kẻ thù của mình.” Hơn nữa đây lại là những thường dân vô tội.
Chiếc thuyền rời Bến Tre vào Tháng Năm, 1988, với 110 người gồm nam phụ, lão ấu. Ngày đầu tiên thuyền bị chết máy sau một trận bão, trôi dạt theo dòng nước trong hai tuần liên tiếp. Nhiều tàu lớn đi qua, nhìn thấy, nhưng không chiếc nào ngừng lại. Chiếc tàu đầu tiên ngừng lại là chiến hạm USS Dubuque, từ Philippines trên đường đến Vùng Vịnh. Chiến hạm Dubuque có thông dịch viên người Việt cũng được biết tình trạng chiếc thuyền bị chết máy hơn hai tuần, không lương thực, cạn nước uống, lênh đênh trên biển. Thuyền nhân chết dần chết mòn chỉ còn lại một nửa. Chiến hạm chứng kiến thuyền nhân quăng mấy xác chết xuống biển để ra dấu tình trạng tuyệt vọng. Chiến hạm Dubuque từ chối cứu chiếc thuyền. Vài người tị nạn lấy sức tàn bơi qua chiến hạm, đu dây lên thành tàu. Thuyền trưởng ra lệnh rung giây cho rơi xuống biển rồi liệng phao bắt họ bơi về thuyền và… lặng lẽ bỏ đi.
Sau hai ngày với lương thực được tàu Mỹ bố thí, thuyền nhân yếu lả. Mức độ người chết khủng khiếp hơn. Lương thực và nước uống hoàn toàn kiệt cạn. Họ không còn chọn lựa nào khác là… bắt buộc phải nuốt chửng thịt của những người đồng hành mới chết để lấy sức.
Ba mươi bảy ngày sau, dân đánh cá Philippines cứu được và đem họ đến phố Bolinao. Một trăm mười người rời Việt Nam, đến bến bờ tự do chỉ còn 52 người. “Báo chí Philippines loan tin, báo chí Mỹ đánh hơi. Từ đó câu chuyện vượt biển kinh hoàng được cả thế giới biết đến qua tên gọi Bolinao 52, địa danh cứu vớt họ và 52 người sống sót trên tổng số thuyền nhân 110 người.
Dù báo chí, truyền thanh, truyền hình đã kể nhiều về biến cố này nhưng theo Nguyễn Ðức, cũng là một thuyền nhân lênh đênh trên biển chỉ bằng một phần 10 chuyến đi của Bolinao, thấy câu chuyện cần phải được kể lại bằng chính những người sống sót.
Ðức nghiên cứu tài liệu về Bolinao 52 nhưng không tìm thấy bao nhiêu vì ai cũng muốn quên đi cảnh tượng kinh hoàng ấy. Sau cuộc phỏng vấn trên đài VNCR, Ðức liên lạc được em gái một người sống sót trên chuyến đi này. Ðức gặp chị Trịnh Thị Tùng, chị đồng ý kể lại câu chuyện sáng tỏ từ lúc khởi hành đến ngày cặp bến Bolinao.
Nguyễn Ðức đưa khán giả vào diễn tiến cuốn phim Bolinao 52 từ lúc tìm nhân chứng đồng ý nói thật và ước nguyện của nạn nhân. Chị Trịnh Thanh Tùng đã ổn định đời sống ở Mỹ, con trai chị lúc vượt biển mới năm tuổi nay đã làm một chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ. Khát vọng của chị Tùng là được trở lại Bolinao để gặp gỡ, tạ ơn những dân làng đánh cá nghèo nàn đã cưu mang họ. Chị cùng đoàn quay phim làm lễ cầu siêu cho 58 thuyền nhân xấu số đã bỏ thây trên biển cả và một số da thịt họ đã giúp sức cho người còn lại sống qua cơn đói lả.
Nhân chứng cho biết cảm giác khi khát nước, mẹ phải nhường những giọt nước mưa cho con, trong khi chị uống nước tiểu của con để khỏi chết khô. Kinh hoàng nhất khi chị Tùng kể, vì đói quá, anh ruột chị Tùng đã dùng hai tay mở miệng chị ra, bỏ vào miếng thịt của “Cô Vân,” người bạn đồng hành vẫn ngồi bên cạnh chị, mới chết đêm hôm trước. Chị Tùng nhắm mắt nhắm mũi nuốt chửng miếng thịt và nhờ đó sống còn để kể lại chuyện xưa.
Trong Bolinao 52 có một biến cố khác khá sâu sắc. William Cloonan nguyên là thủy thủ chiến hạm Dubuque. Ông phục vụ trên chiến hạm này khi chiếc thuyền Bolinao 52 gặp nạn. Ông và nhiều chiến hữu chứng kiến cảnh tang thương của chiếc thuyền bị nạn, nhưng là cấp thừa hành ông không làm gì được đành phải thi hành lệnh hạm trưởng. Nhưng hình ảnh ấy vẫn ám ảnh ông hàng chục năm sau, ông ước ao có dịp gặp mặt nạn nhân của chiếc thuyền ấy nếu có ai may mắn còn sống sót để phát biểu cảm nghĩ của ông và các bạn.
Nguyễn Ðức đã sắp đặt để hai mẹ con chị Tùng gặp ông Cloonan. Không khí lạnh nhạt nặng nề lúc đầu dần dần tan biến để lại sự thông cảm giữa những oán trách và mặc cảm tội lỗi. Cuối cùng Nguyễn Ðức đã ghi lại được cảm xúc của sự bao dung và đồng cảm giữa hai thành phần vào một cuốn phim tài liệu vô giá.
Nhân tháng tưởng niệm 30 Tháng Tư năm nay, CNN kính mới quí đồng hương hãy đến xem phim Bolinao 52 để hình dung lại giá trị của hai chữ tự do chúng ta đã phải trả bằng bao nhiêu máu và nước mắt.(NVOL)

Oh, Saigon

Phim Tài Liệu của Hoàng Đoan. Trình chiếu ngày 05/05/2008 – 11PM trên 2 kênh của PBSKCTS/Seattle/CHANNEL 9 &KYVE/CHANNEL 47
“Nếu tôi có thể lấy tay điểm chỉ được mốc thời gian làm gia đình tôi tan nát thì phải là ngày 30 tháng tư năm 1975 khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt.” – Đạo diễn Hoàng Đoan“Oh, Saigon” là một cuốn phim tài liệu năm 2007 kể lại thảm trạng của riêng gia đình cô Hoàng Đoan, một người Mỹ gốc Việt, bị tan tác vào thời điểm Sài Gòn mất tên và những nỗ lực nhằm nối kết gia đình mình của cô đạo diễn này sau nhiều năm họ sống chia rẽ.Ông John Battsek, người đã từng nhận giải Oscar và Emmy, nhận hỗ trợ trong việc sản xuất phim “Oh, Saigon”. Phim này đã thắng nhiều giải thưởng lớn của Sundance, ITVS, Trung Tâm Thông Tin của người Á Châu, và Ngân Quỹ cho Kế Hoạch Hoà Giải và Phát Triển.Lược Truyện Phim (của Jasper Sharp):Đạo diễn Hoàng ĐoanNguồn: ohsaigon.comCô đạo diễn Hoàng Đoan tâm sự rằng, “Nếu tôi có thể lấy tay điểm chỉ được mốc thời gian làm gia đình tôi tan nát thì phải là ngày 30 tháng tư năm 1975 khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt.”
Ngày ấy cô Đoan ngồi trên chuyến trực thăng chót của Hoa Kỳ chuyên chở một số thường dân ra khỏi Sài Gòn vào ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam. Cả gia đình cô Đoan vội vã lánh nạn đến Hoa Kỳ ngoại trừ người chị của cô tên là Vân bị bỏ lại trong hỗn loạn. Hai mươi lăm năm sau, cô Đoan trở lại Việt Nam để gặp lại những người còn sót lại trong gia đình mình. Cô đưa ra ánh sáng hoàn cảnh của chị mình phải sống ra sao trong những năm tháng mang tính hậu quả của chiến tranh. Cô Đoan cũng khám phá điều mà cha cô, người từng tham trận cho miền Nam, chưa bao giờ chia xẻ là ông có hai người anh em trai: một người theo cộng sản miền Bắc chiến đấu chống cha cô, một người đào ngũ chống chiến tranh ở miền Nam. Trong nổ lực hàn gắn vết thương lòng của gia đình mình, cô Đoan đã phải cố gắng thuyết phục mọi người phải đối mặt với một quá khứ đầy chia rẽ và tìm cách hòa giải với nhau ở Việt Nam. Bằng vào nhiều hình ảnh mê hoặc liên hệ đến chiến tranh, “Oh Saigon” là một bức phác họa gần gũi và khó quên của một gia đình phải sống với hậu quả cay đắng của những chọn lựa trong tích tắc và một di sản do chiến tranh để lại đầy đau khổ thảm thiết vẫn tồn tại trong nhiều năm tháng cho dù cuộc chiến có súng đạn đã chấm dứt từ lâu.Không hẳn là tình cờ mà phim được giới thiệu toàn quốc vào tháng 5. Tháng 5 được chọn là tháng kỷ niệm và tôn vinh di sản người Hoa-kỳ gốc Á-châu. Nội dung phim vừa là một hồi tưởng đau xót, vừa như một cây cầu thông hiểu bắc qua những phân cách thế hệ, gia đình, cộng đồng, ở giai đọan hậu chiến tranh và ở những cấp độ sâu xa khác. Một cuốn phim cần thiết cho những ai muốn tìm hiểu về quá trình chữa lành những chấn thương quá khứ và đối mặt với những vấn đề về công bằng xã hội.Thời gian trình chiếu:”Oh, Saigon” đã được trình chiếu tại Đại Hội Điện Ảnh Quốc Tế của người Mỹ gốc Á vào tháng 3 năm 2007; ở Đại Hội Điện Ảnh Á Châu Barcelona ở Tây Ban Nha vào tháng 4 và tháng 5 năm 2007; ở Đại Hội Điện Ảnh Vũ điệu Mưa ở Luân Đôn vào tháng 10 năm 2007; và ở Đại Hội Điện Ảnh Austin, Texas vào tháng 10 năm 2007 và đã được chọn là phim được yêu thích nhất để trở lại Austin và mời trình làng trong tư thế chào khai mạc cho Đại Hội Điện Ảnh Phim Tài Liệu Austin, Texas vào ngày 6 tháng 2 năm 2008 vừa qua.”Oh, Saigon” đã được người xem chịu đứng chật rạp vì vé bán hết tại Nhà Bảo Tàng Triển lảm Nghệ Thuật Tài liệu Hiện Đại Fortnight (MoMA) tại Nữu Ước lúc 8 giờ tối vào ngày 16 tháng 2 năm 2008.”Oh, Saigon” sẽ được trình chiếu tại Đại Hội Điện Ảnh người Mỹ gốc Á và Thái Bình Dương vào ngày 3 tháng 5 năm 2008.”Oh, Saigon” đã thắng giải nhất về phim tài liệu tại Hội Đồng Quốc Tế của Đại Hội Điện Ảnh Nghệ thuật Brooklyn thứ 42 và sẽ được trình chiếu tại Nhà Bảo Tàng Brooklyn vào thứ sáu, ngày 9 tháng 5 tới đây.”Oh, Saigon” sẽ được trình chiếu trên kênh truyền hình thế giới của đài PBS trong tháng 5, 2008–dịp lễ Quốc Gia Tôn Vinh người Hoa Kỳ Gốc Á Châu.
ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN
Hôm nay đúng ngày 30 tháng Tư, 2008, những ký ức cũ sau 33 năm nghiệt ngã lại hiện về khi người Cộng Sản Việt Nam nhẫn tâm trả thù người dân Việt Nam Cộng Hòa qua nhiều chính sách tàn bạo, gây điêu đứng cho người dân bị trị miền Nam. Để rồi trong sách báo ghi nhận những tiếng hờn cô đơn trong lao tù, những tiếng khóc oan khiên dưới đáy mồ lòng đại dương. Tôi xót xa xem bài thơ của thi sĩ Ngô Minh Hằng như sau:
Khóc người đáy biển
Tháng Tư ra biển khóc người
Oan hồn hỡi, đáy trùng khơi, xin về…
Biển chiều vàng ánh tà huy
Dài tay sóng níu bước đi vô hồn
Đứng trên bờ đá cô đơn
Khóc người bằng tiếng thơ buồn xót xa
Ai hay đáy biển là nhà
Máu pha lệ hận chan hòa đại dương
Thịt da nát dưới bạo cuồng
Ngàn trang huyết sử bên đường tử sinh!
Mắt buồn nhìn sóng biển xanh
Thấy sương khói vẫn vô tình khói sương
Mà lòng đòi đoạn đau thương
Xót người đáy biển đoạn trường chưa nguôi
Tháng Tư ra biển khóc người
Hiển linh,chứng giám đôi lời thơ đau
Tôi viễn xứ, người biển sâu
Chung hồn lưu lạc, chung sầu quê hương
Người trên sóng nước trùng dương
Tôi khung cửa hẹp, gió sương bốn mùa
Bóc tờ lịch. Lại Tháng Tư!
Đau tình sông núi làm thơ khóc người
Người vùi xương trắng biển khơi
Còn tôi sống kiếp dân Hời vì ai?

Ngô Minh Hằng
(Viết để khóc cho mình và cho những thuyền
nhân kém may mắn trên đường vượt biển tìm
Tự Do sau 1975.)

Viện Bảo tàng Thuyền Nhân ở Canada.

Tượng Đài Mẹ Bồng Con, Canada.
Tôi có xem một bài báo viết dịp kỷ niệm 20 năm xa xứ, đúng vào tháng 4 năm 1995, thủ đô Ottawa của Canada đã cho ra đời Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam tại đây với bức tượng Mẹ Bồng Con của điêu khắc gia Phạm Thế Trung tọa lạc ngay tại trung tâm thành phố sầm uầt này, ông vốn là người tị nạn vượt biển đến Canada với kỷ niệm u buồn về chuyến hành trình gian nan đầy hiểm nguy, là nguồn cảm hứng khiến ông sáng tác tác phẩm độc đáo này. Người Việt du lịch từ các nơi có dịp ghé xem hay cư ngụ tại Canada không khỏi hãnh diện vì đã dựng được một bức tượng thật ý nghĩa và tạo xúc động cho nhân loại do một biến cố chính trị đau thương do nạn Cộng Sản tàn ác gây ra. Bức tượng đồng đen “Mẹ Bồng Con” đang chạy giặc, cho thấy nét lo âu hối hả. Gương mặt người mẹ đầy can đảm nhìn về phía trước, bà đi tìm một chỗ an toàn cho đứa con đang ngủ bình yên trên cánh tay mẹ. Tượng Mẹ Bồng Con to giống như người thật, là tấm lòng ưu ái mà chính quyền Canada dành cho người Việt tị nạn chính trị, quốc gia đã cưu mang tiếp nhận hơn 200,000 người Việt, mà làn sóng thuyền nhân chiếm độ 80% trên tổng số cộng đồng người Việt sinh sống tại Canada. Dưới chân tượng Mẹ Bồng Con, có bảng lưu niệm viết bằng tam ngữ: Việt, Anh và Pháp thật xúc động:
“Tưởng niệm những người đã bỏ mình trên đường tìm tự do”.
Bác sĩ Dương Anh Dũng, một thuyền nhân đến Đức do con tàu Cap Anamur vớt, ông là thủ quỹ trong Ban Chấp Hành của Hội Xây Dựng Tượng Đại Thuyền Nhân tại cảng Hamburg cho tôi biết Tượng Đài Thuyền Nhân dự trù hoàn tất sang năm, 2009. Mô hình điêu khắc đang chuẩn bị.
Hải cảng Hamburg bên Đức quốc là khởi điểm hải hành của các con tàu nhân đạo Cap Anamur đã đi cứu vớt 11,300 thuyền nhân tị nạn VN ngoài Biển Đông đưa về bến bờ tự do và chăm sóc y tế cho 35,000 thuyền nhân VN trong các đảo tỵ nạn tại Đông Nam Á. Chính Hamburg cho thấy sự rộng mở từ tâm và nhân ái với những nạn nhân tị nạn Việt Nam tại Biển Đông liều mình ra đi tìm ý nghĩa của hai chữ tự do, họ được cứu vớt mà nơi xuất phát và trở về của những con tàu nhân đạo Cap Anamur và các vị chủ tàu đều là người Đức đang sinh sống tại Hamburg.
Hamburg từ lâu đã được xem như Cửa ngõ ra thế giới, và giờ đây với sự hiện diện của tượng đài tị nạn Việt Nam thì Hamburg còn được gọi là Cửa ngõ đến tình người. Nó là một hải cảng lớn bận rộn và quan trọng của Âu châu, và là một danh lam ghi dấn tích can trường của thuyền nhân Việt Nam.
Để tưởng niệm Thuyền Nhân Việt Nam bỏ mình trên Biển Đông, hai nơi Bỉ và Thụy Sĩ cũng đã xây dựng bia tưởng niệm tại Liège và Genève. Tượng Đài Thuyền Nhân thì có tại Canada, Đức và Hoa Kỳ.
Tại Hoa Kỳ, mô hình của Tượng Đài Thuyền Nhân đã có rồi, nó là biểu tượng người mẹ bồng con trườn trên cát dang tay cầu cứu và người thanh niên dìu bà cụ già đứng phía sau. Dự án nguyên thủy được nhà văn Thái Tú Hạp và hiền thê là thi sĩ Ái Cầm thực hiện lời ước nguyện từ Biển Đông khi ông bà ra đi vượt biên. Chuyến đi tưởng chừng vô vọng vì bị thiên nhiên bão táp đe dọa.
Đi về đâu thuyền lạc giữa mênh mông
Không thể hiểu khi an bình đất nước
Người giết hại người thù hận đau thương
Người đày đọa người chết thảm giữa biển đông
Biển ơi! Xin hãy dừng cơn thịnh nộ
Hãy mở đường đưa ta đến niềm hy vọng bình an

Đó là trích đoạn bài thơ dài “Lời Nguyện Giữa Biển Đông” của Thái Tú Hạp vào năm 1979, khi ông dâng cảm xúc tận cùng bắt nguồn từ khi con tàu ra khơi với 200 người tị nạn vượt trùng dương từ Đà Nẵng và bị bão tố đánh vỡ vào bờ hoang đảo Hải Nam, 13 người tử nạn. Ông đã thầm nguyện đến xứ sở Tự Do nào đó sẽ lập bia thờ và để tưởng niệm đến những đồng hương đã vĩnh viễn ở lại giữa Biển Đông u trầm oan khuất.
Dự án đã được thai nghén và thi hành từng bước một từ nhiều năm qua, với bao khó khăn trên bước đường thực hiện. Vì tính cách vô vị lợi và mang một ý nghĩa cao đẹp, dự án được nhiều đồng hương tiếp tay hỗ trợ. Điểm đặc sắc là ngoài bức tượng đúc bằng đồng màu nâu, do điêu khắc gia kiêm họa sĩ Vi Vi thực hiện, còn có Bia Đá Hoa Cương màu đen rất thẩm mỹ khắc tên các thuyền nhân và bộ nhân không đến được đích điểm tự do, hoặc vì mất tích hay đã tử nạn, tên họ được ghi nhận lên bia đó. Đến nay hơn 5,000 nạn nhân đã ghi nhận trong danh sách làm bia. Việc tìm kiếm tên nạn nhân quá cố hay mất tích đã được cung cấp bởi thân nhân hay bạn bè của họ, việc khắc tên tên nạn nhân hoàn toàn miễn phí. Theo sự phác họa đài tưởng niệm này, bức tượng bằng đồng có chiều cao là 7.2 feet và nặng 4,000 pounds sẽ được đặt trên một bệ bê tông nằm giữa một hồ nước. Xung quanh hồ nước, phía bên ngoài sẽ là những bia đá hoa cương có khắc tên các nạn nhân. Tượng đài này cuối cùng đã tìm được nơi tọa lạc thích hợp là khu vực gần Vườn Vĩnh Cửu thuộc đất nghĩa trang Westminster Memorial Park, trong thành phố Westminster, ngay kế cận vùng Little Saigon, nơi tập trung đông đảo nhất đồng hương Việt Nam tại hải ngoại.
Ngày 26 tháng 4 năm 2008, đã có hơn 400 quan khách, các giới chức chính quyền Westminster, Dân Cử và Đại Diện các Hội Đoàn, Báo Chí và đồng hương tề tựu cùng với các thành viên trong Ủy Ban Thực Hiện Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam và các nhân viên của Westminster Memmorial Park đã chính thức làm lễ động thổ khởi công xây dựng tượng đài.
Nếu trong một phút suy tư nào đó, ta tự hỏi có bao nhiêu người đã tử nạn trên bước đường tìm tự do như vậy. Nếu biết quá nguy hiểm thì tại sao hàng triệu người đành dứt khoát là phải rời bỏ quê cha đất tổ để ra đi. Theo Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc thì những số liệu về người tị nạn được ghi nhận như sau:
Đã có trên 850,000 người được định cư và trên 850,000 người xem như đã tử mạng trên đường vượt biên. Vào cuối năm 1978 đã có hơn 60,000 thuyền nhân tại các trại tị nạn Đông Nam Á. Vào tháng 6 năm 1979 đã đạt số cao kỷ lục với 54,000 thuyền nhân đến các trại. Nếu chúng ta ước tính chỉ có 50% sắc suất vượt biên thành công thì đã có 100,000 người ra đi trong vòng một tháng. Số người thiệt mạng rất đáng cho chúng ta suy ngẫm. Lý do người ta liều mình trên Biển Đông cũng vì họ không thể sống dưới sự cai trị tàn ác của nhà cầm quyền hung bạo Cộng Sản Việt Nam.
Với con số khổng lồ gần một triệu nạn nhân coi như đã mất tích hay tử nạn, thì danh sách 5,000 người này được ghi nhận vào đợt đầu khắc tên sẽ là nổ lực tiêu biểu cho sự ghi ân và nhớ ơn những nạn nhân vượt biên chấp nhận đối diện với những rủi ro, những liều lĩnh thà chết còn hơn sống nhục nhã trong chế độ phi nhân tính của CSVN. Sự ra đi vĩnh viễn của hàng trăm ngàn nạn nhân của những thách đố biển cả hay vượt xuyên rừng núi để tạo ra thảm trạng đánh động lương tâm thế giới, để rồi chúng ta có những chuyến tàu ra khơi cứu vớt người vượt biển như Cap Anamur từ Đức, con tàu Đảo Ánh Sáng (Ile de Lumière) từ Pháp, hay Hải quân Hoa Kỳ,…
Trong những ý tưởng như vậy, đại diện cho Ủy Ban Thực Hiện Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam đã phát biểu những cảm nhận như sau:
“Cho đến nay thảm trạng Thuyền Nhân vẫn còn vang vọng như những thông điệp, những chứng tích cụ thể đầy đau thương và dũng cảm nhất trong lịch sử dân tộc, đã in sâu vào tâm khảm hàng triệu người Việt Nam rời khỏi quê hương vượt biển tìm tự do. Đã có hàng trăm ngàn thuyền nhân, bộ nhân trên những chặng đường gian nan đầy máu và nước mắt nhưng cuối cùng không đến được bến bờ nguyện ước. Đã đánh thức lương tâm nhân loại, đón nhận chúng ta vào định cư nơi các miền đất Tự Do, An Bình và Thịnh Vượng.”
Lời Nguyện Giữa Biển Đông là tiếng kêu gào thống thiết vọng về từ biển cả xa xăm, những vong hồn bơ vơ bỏ lại với trùng dương sóng dử, tiếng khóc thê lương của những cuộc chia ly bi thảm ngút ngàn trời cao mà thơ Thái Tú Hạp đã diễn tả, những ước nguyền từ chuyến hải hành oan nghiệt, nhưng may mắn… Chuyện thuyền nhân là những chứng tích ghi nhận trang sử bi hùng nhất của người tị nạn mưu cầu sự tự do và nhân quyền trong đời sống, mà trong những chứng tích đã qua, có người thành công và có kẻ thất bại. Cuối cùng, những thất bại trong bất cứ cuộc hành trình tìm tự do nào cũng được tôn vinh và ghi nhớ qua biểu tượng của Tượng Đài Thuyền Nhân ngày nay.
Biển sóng đừng xô nhau chìm sâu đáy nước
Đừng xé em tôi từng mảnh cuồng điên
Em chỉ là cánh hoa mong manh thánh thiện
Em hồn nhiên trinh trắng ngây thơ
Tiếng mẹ khóc, mẹ gào to hơn sóng cả
Cuộc chia ly bi thảm ngút trời cao
Biển ơi! Xin hãy đưa ta đến trái tim người
Trái tim như thác nguồn yêu thương từ ái
Biển vỗ về nhau những nghiệt ngã trầm kha
Hoa Tự Do nở bằng nước mắt
Bằng máu xương khổ lụy hãi hùng

Con đường sáng biển khơi thức dậy
Trong tình thương của nhân loại thăng hoa
Biển ơi! Dù sao ta vô cùng cảm tạ
Lời nguyện một lần mãi khắc ghi
Xin hãy bốc hơi thành mưa thành suối Cam Lồ
Gieo xuống ruộng đồng xanh thắm ước mơ
Chảy vào trái tim người hiểm độc
Cho cuộc đời chuyển hóa Thiện Tâm

Chuyện Thuyền Nhân là những trang sử
Máu xương và nước mắt nghìn năm
Những thảm kịch từ Việt Nam réo gọi
Từ biển đông trầm thống kêu gào
Biển xót xa và loài người cứu khổ
Trong vòng tay Thánh Mẫu Từ Bi
Trong trái tim Mẹ Quan Âm Bồ Tát
Biển hết trầm luân bất hạnh thảm sầu
Biển thắp ngọn hải đăng tỉnh thức trong hồn nhau
Tạ ơn đất trời xóa tan thù hận
Ánh sáng nhiệm mầu trong tăm tối thương đau
Cho chúng ta niềm tin yêu hạnh phúc
Mùa xuân như triều sóng vươn lên
Tỏa ngát tình thương khắp cùng thế giới”
(Thơ Thái Tú Hạp)
Việt Hải
Ngày 30 tháng Tư, 2008
DI TẢN VÀ VƯỢT BIÊN – KÝ ỨC VỀ NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN

Hàng chục vạn người, đa số là người Công giáo, rời khỏi miền Bắc VN năm 1954 theo chương trình Passage to Freedom (Con đường đến Tự Do)

Bùi Trọng Cường & Nguyễn Phục Hưng
Sau ngày 30-4-1975, một ký giả Tây phương đã viết là ‘Dưới chính sách khắc nghiệt của Cộng sản, nếu cái cột đèn mà biết đi chắc nó cũng…vượt biên’. (Ginetta Sagan). Câu nói dí dỏm của Sagan đã diễn tả được một thực trạng rất bi hài của dân dộc Việt Nam trong khoảng thời gian hơn hai mươi năm kể từ Tháng Tư, 1975 cho đến năm 1996.
dao2Những người chạy trốn chế độ Cộng Sản có thể chia làm hai đợt chính: Đợt đầu được mệnh danh là người Di Tản vì họ rời Việt Nam ngay trong khoảng tháng Tư 1975 và đợt thứ hai thường được mệnh danh là ngưòi Vượt Biên, dù bằng đường bộ hay đường biển.

fallofsaigon_on_gate

Di Tản
Ngày 30 tháng 4, 1975 là ngày chính thức ghi nhân sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hoà trước làn sóng xâm lăng của cộng quân. Cuối tháng 4,1975 đã có những đợt rời Việt Nam của các nhân viên và gia đình các sứ quán, công ty ngoại quốc cũng như nhừng người Việt có phương tiện riêng hoặc được các cơ quan Hoa Kỳ và các nước đồng minh bảo trợ. Ngày 29 tháng tư 1975, Tổng Thống Hoa Kỳ Gerald Ford chính thức ra lịnh khỏi động chiến dịch “Frequent Wind” để di tản quân nhân, nhân viên dân sự Mỹ và một số người Việt đã từng cộng tác hay liên hê với chính phủ Mỹ và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa rời khỏi Việt Nam để tránh bị Cộng Sản trả thù.
Cùng thời điểm này, rất nhiều người Việt Nam cũng đã quyêt đinh di tản. Họ là những người mà đã ít nhất một lần bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, bỏ mồ mả ông bà, tổ tiên để di cư vào Nam năm 1954, họ là những người đã có ít nhiều hiểu biết, kinh nghiệm về cộng sản, họ là những người đã may mắn vượt thoát được sau cuộc triệt thoái của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa khỏi miền Cao nguyên và miền Trung, họ là những người chối bỏ chế độ cộng sản. Ðó là lý do mà làn sóng người di tản trong tháng Tư 1975 đã làm nhiều người ngạc nhiên với con số khoảng 300 ngàn người và các cơ quan cứu trợ quốc tế đã phải mất nhiều thời gian để giúp họ định cư ở các nước tự do nhất là Mỹ, Canada, Úc, Tân Tây Lan và các trai tạm cư ở Subic Bay (Philippines), Guam, Wake Island, California, Arkansas, Florida, Pensylvania ãa phải mở mãi cho đến cuối năm 1975.
Chiến dịch ‘Frequent Wind” trên nguyên tắc chỉ kéo dài từ 3:30 chiều ngày 29 tháng tư và chấm dứt vào đúng 21 giờ ngày 30 tháng tư, 1975 khi người lính Mỹ cuối cùng được trục thăng bốc khỏi Sàigòn và trụ sở của cơ quan DAO (Defence Attachés Offfice) của Hoa Kỳ được Thủy quân lục Chiến Hoa kỳ cho phá nổ. Tuy nhiên với làn sóng người di tản rầm rộ đổ ra biển Thái Bình Dương bằng các tàu hải quân, thương thuyền và cả các tàu đánh cá nhỏ, việc cứư vớt người vẫn được tiếp tục trong nhiều tuần sau đó. Hạm đội số 7 của Hải quân Hoa Kỳ với các hàng không mẫu hạm Hancok , Midway và nhiều tàu chiến hạm cũng như nhiều thương thuyền Hoa kỳ và quôc tế đã tham dự vào chiến dịch cứu vớt người trên biển rồi chuyển qua các trai ty nạn ở Subic, Guam trước khi phân tán họ đi tị nạn tai Hoa kỳ và các nước tự do khác như Canada, Uc, Pháp, Anh, vân vân. Trên thực tế, giai đoan di tản và vượt biên không có sư gián đoạn. Có chăng chỉ là sự phân chia thời điểm chính phủ Hoa Kỳ chấm dứt chiến dịch vớt người trên biển mà thôi, còn sự ra đi của người Việt vần tiếp tục không ngừng.
Những hình ảnh sau đây ghi nhận cảnh hãi hùng của một cuộc di tản chưa từng có trong lich sử Việt Nam và thế giới.
Đoàn người Di tản từ miền Trung
http://photo.tcworks.net/slideshow.php?set_albumName=album392
Helicopter Evacuation From the American Embassy
http://vietnamese-american.org/tuantran/journey.html
Dân Di Tản Chạy ra Trực Thăng tại Trụ sở DAO, Saigon
http://www.midwaysailor.com/midwayfreqwind/spectrum75

Dân Di Tản đến Midway bằng trực thăng Hoa Kỳ
http://www.midwaysailor.com/midwayfreqwind/spectrum75
Một máy bay VNCH chở người di tản đáp xuống Midway
http://vietnamese-american.org/tuantran/journey.html
Một Thuyền Đánh Cá chở người Di Tản được Midway tiếp cứu

http://vietnamese-american.org/tuantran/journey.html
frequentwind-003b
Cuộc Di Tản tháng tư năm 1975 đã có nhiều cảnh đẫm máu và nước mắt nhưng tình nhân loai cũng đã được biểu lộ rõ rệt từ những quân nhân và các cơ quan từ thiện. Sau khi đã đến đựợc Mỹ hay các nước mở vòng tay đón nhân, dân Di Tản còn phải trải qua nhiều khó khăn như sự khác biệt ngôn ngữ, văn hóa, vân vân để tạo lại cuộc sống. Vượt Biên
Họ ra đi mà không biết mình đi đâu, sẽ đến đâu; đa số không biết gì về đại dương cùng những nguy hiểm của những chuyến hải hành cũng như không biết gì về những khó khăn khác đang chờ đợi họ. Ðó là lý do mà có lúc người ta đã nói “ nếu có ba người vượt biên thì chỉ có một người đến bến an toàn, một người chết trên biển vì bảo tố, đói khát và hải tặc và một người sẽ bị bắt lại và đi tù”.
The State of the World’s Refugees 2000:
50 Years of Humanitarian Action
Những Người Vượt Biên là ai và tai sao họ phải liều mình đi tìm Tự Do?
Họ chính là những người chậm chân trong giai đoạn Di Tản. Có thể lúc đó họ còn chút hy vọng là những người Cộng sản cũng còn chút lương tâm và sáng suốt không nỡ đối xử với những người dân miền Nam như kẻ thù không đội trời chung và họ sẵn sàng cộng tác với những người Cộng sản để cùng xây dựng một Đât nước Thông Nhất trong Hòa Bình. Họ đã lầm sau bao nhiêu ngày lầm than tôi mọi cho những người Cộng Sản vô lương. Họ đã mất hết tài sản, tự do và cả phẩm giá con người dưới chánh sách trả thù tàn bạo của Cọng sản. Họ có thể chịu nghèo khổ để hy vọng vào một tương lai xán lạn. Nhưng tương lai chỉ có tù đầy, thù hận và dối trá. Thế hệ của họ coi như bỏ vì họ đã lỡ tin Cộng Sản. Nhưng còn thế hệ con cái họ? Họ không thể chịu cực khổ nhìn con cái họ trở thành những con vật trong xã hội Cộng sản Xã hội Việt Nam đã lùi lại hơn 30 năm sau cái ngày gọi là ‘giải phóng’. Tương lai họ còn gì đâu ngoài một lối đi duy nhất: Vượt Biên. Nếu may ra thoát được qua bờ Tự Do thì con cái họ còn có hy vọng sống được một cuộc đời đáng sống. Còn không, đời sống ở Việtnam có khác gì đã chết. Bới vậy Họ đã quyết chí liều mình Vượt Biên qua Cam-pu-chia, đến Thái Lan hay Vượt Biển qua Mã Lai, Nam Dưong, Phi Luật Tân nơi nào cũng được, miễn là ra khỏi điạ ngục Việt Nam bất chấp sự bắt bớ lùng xét của công an, hiểm nguy của hải tặc, bão tố hãi hùng ngoài biển Đông.
Sau đây là vài trích đoạn từ các tác phẩm viết về tỵ nạn:
“Người Việt Nam chỉ ra đi trong thế cùng, không còn cách nào có thể sinh sống tại quê hương của mình. Ðây là một cuộc bỏ phiếu vĩ đại chống lại chế độ cộng sản Hà Nội bằng chính mạng sống của mình. Trong số nầy, rất nhiều người mang hoài bảo sẽ có một ngày trở về quang phục quê hương. Số người tử nạn trên bước đường vượt biên không thể thống kê chính xác được. Người ta phỏng chừng từ 400.000 đến 500.000 thuyền nhân bỏ mình trên biển cả hay bị hải tặc bắt giết.
Vượt biên năm 1975 là cuộc xuất ngoại vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam kể từ ngày lập quốc. Ðây là một sự kiện hoàn toàn bất ngờ đối với Nam Việt, Bắc Việt, Hoa Kỳ và cả thế giới. Trước đó, không một ai có thể tiên đoán được phong trào vượt biên sẽ xảy ra đến mức lớn lao như thế. Phong trào vượt biên kéo dài từ 1975 đến 1996 ngang bằng với thời gian chiến tranh từ 1954 đến 1975. Tổng số người rời bỏ đất nước bằng tất cả các cách, cộng với những người tử nạn trên đường vượt biên, lên đến khoảng gần bằng tổng số dân chúng và quân nhân Việt Nam cả Nam lẫn Bắc tử trận trong cuộc chiến từ 1954 đến 1975 (khoảng 3,000,000).
Những Thuyền Nhân nằm la liệt trong khoang tàu
http://photo.tcworks.net/slideshow.php?set_albumName=album392
Những đợt vượt biên ào ạt, bất chấp mạng sống đã làm rúng động lương tâm nhân loại, và đã phơi trần bản chất độc ác của chế độ Cộng Sản Việt Nam (CSVN) trước công luận thế giới. Sự kiện nầy là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với nhân loại về “Thiên Đường Cộng Sản” và trở thành động cơ thúc đẩy các nước Ðông Âu ly khai chủ nghĩa cộng sản, và dẫn đến sự sụp đổ của khối cộng sản năm 1990-1991?
Phỏng theoTrần Gia Phụng
‘‘Bước vào đầu thế kỷ 21, Việt Nam vẫn là một trong các nước chậm tiến trên thế giới, mặc dầu có sẵn tiềm năng, nhưng vì sai lầm nghiêm trọng của đường lối Xã Hội Chủ Nghĩa. Những thảm trạng xẩy ra trong hơn nửa thế kỷ vừa qua cần phải được ghi nhớ, trong đó có hai sự kiện gần nhất là việc nhà cầm quyền cộng sản giam cầm công dân vô tội trong tù cải tạo và việc người dân trốn ra ngoại quốc trong những điều kiện bất trắc đầy nguy hiểm. Giam giữ người vô tội trong các trại tập trung cải tạo, chế độ cộng sản đã một mặt vi phạm tội ác, một mặt phung phí năng lực quốc gia để phục vụ mục tiêu đảng phái. Đảng Cộng Sản không chịu thú nhận rằng chính tàn bạo của họ là nguyên nhân khiến người dân phải bỏ nước ra đi, mà họ còn lợi dụng cơ hội ra đi đó để cướp đoạt tài sản, thu vàng bán bãi, mặc cho tài năng quốc gia thất thoát ra ngoài và biết bao người dân lương thiện đã bị chết kinh hoàng trên biển cả.
Phạm Hữu Trác – Vàng Máu và Nước Mắt
Trong 2 năm qua, nhất là từ tháng 9 năm 1978, làn sóng người tị nạn từ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang tràn ngập các trại tị nạn ở Ðông Nam Á. Ngoài ra, hàng trăm ngàn người Việt Nam đã bị chính quyền Hà Nội bắt buộc ra đi trên những con tàu không thể đi biển được, và đã biến mất trên Biển Ðông đầy bất trắc. Ở một số bờ biển Thái Lan, các ngư dân đã phải quay tàu về đất liền khi chứng kiến cảnh hãi hùng như một phần thi thể của người vượt biển vướng vào lưới, vân vân.
Thuyền Nhân trên đường vượt biển
http://photo.tcworks.net/slideshow.php?set_albumName=album392
Vì sao quá nhiều người liều mạng bỏ trốn khỏi Việt Nam? Ta có thể tìm thấy câu trả lời khá dễ dàng trong các chính sách hậu chiến đã được công khai thực hiện: “tiêu diệt các thế lực thù nghịch: trừng trị những kẻ bù nhìn, đánh bại giới tư bản, đánh đuổi người Trung Hoa.”
Hiện tượng thuyền nhân đã phản ảnh được cái đau khổ của người phải rời bỏ quê hương. Họ không phải chỉ kín đáo đi từ bên này sang bên kia biên giới, chờ đợi cơ hội quay về khi mọi chuyện đã trở lại bình thường hay theo ý họ mong muốn. Họ ra đi, không hề biết trước mình sẽ đến đâu, không có viễn ảnh hồi hương, và cam chịu mọi hiểm nguy. Họ phải đang tâm cắt bỏ những ràng buộc với quê hương và dân tộc.
Vietnamese refugees http://www.library.ubc.ca/asian/FinalAsian/Vietnam/V-08.html
Thuyền nhân là những người không chịu đựng được chính sách hà khắc của chính quyền cộng sản Họ là những người mà trước năm 1975, không bao giờ muốn rời bỏ quê hương. Trớ trêu thay, lịch sử đã đảo lộn, đã thay đổi cuộc đời ho vượt xa sức họ tưởng tượng, đến mức họ phải quyết định bỏ lại sau lưng tất cả những người và những gì yêu quý, liều mạng sống của mình cũng như chấp nhận mọi nỗi kinh hoàng của một tương lai bất định, để rời khỏi Việt Nam.
Lesleyanne Hawthorne – Refugee – The Vietnamese Experience
Những ‘thuyền nhân’, danh từ thế giới gán cho họ, thường phải chịu nhiều rủi ro lớn lao, từ rất lâu trước khi đặt được chân xuống tàu. Trong khi cố gắng tìm cách để thoát được công an và lính biên phòng, họ đã chấp nhận rủi ro bị bắn, hoặc nhẹ nhất là, bị bắt lại và bỏ tù. Những ai may mắn xuống được tàu phải ra đi trên các thuyền đánh cá mỏng manh đầy ắp người không thích hợp để đi vượt đại dương. Thường thường, họ nhắm hướng đi đến Thái Lan hoặc Mã Lai, nhưng lại cập bến ở đâu đó giữa Hồng Kông và Úc Ðại Lợi. Biển cả cũng cướp đi một số người mà không ai biết được là bao nhiêu.Tuy vậy, cuối cùng thì câu chuyện về những người tị nạn Ðông Dương là câu chuyện về những người bị từ chối. Trước tiên và đau đớn nhất, họ bị chính quyền của chính nước họ khước từ. Họ cũng nhiều lần bị cự tuyệt bởi các quốc gia lân bang nơi họ đến xin tạm trú, và bị từ chối ít nhất là vào lúc đầu bởi các nước Tây Phương và Nhật Bản, những quốc gia duy nhất có khả năng và tấm lòng cứu vớt thuyền nhân.“Chúng tôi cần gạo và thực phẩm. Trong những ngày này, chúng tôi không có tiền để mua thêm thức ăn. Chúng tôi không được phép có công việc làm. Nếu thực phẩm được phát trễ, chúng tôi chỉ việc nhịn đói. Chúng tôi có rất ít nước uống, vì đang là mùa khô. Tôi nghĩ nếu mọi chuyện không thay đổi, chúng tôi sẽ chết hết.”Refugee: Thailand, 1978
“Trong bệnh viện, một người đàn ông và đứa con trai đang khóc trên lán. Tàu họ đã đến đêm hôm trước, nhưng bị lật úp. Người vợ, người mẹ đã chết đuối.”
Delegates of ‘Society of Friends’: Malaysia, 1979
“Các lính tuần tra phát hiện có những bao ni-lông xoáy tròn trên mặt nước. Họ chuẩn bị tăng tốc độ vọt đi tiếp, thì khám phá ra rằng, các bao nhựa này đã được thổi phồng, căng lên, để chở hai em bé sơ sinh, dĩ nhiên là chưa biết bơi. Người mẹ đang ra sức đẩy chúng. Người cha đã không may chết đuối trước đó.”
Report: Mekong River Crossing, 1978
Người mẹ của một em trai 14 tuổi kể lại, tàu của cô bị hải tặc từ một tàu cào của Thái Lan nhảy sang. “Tôi biết bọn chúng sẽ làm gì”, cô vừa kể vừa khóc nức nở. “Tôi van xin chúng đừng làm gì trước mặt con trai tôi. Vì thế, chúng đưa tôi vào cabin tàu, rồi 7 tên cưỡng hiếp tôi trong đó.”
Refugee: Malaysia, 1979
Anh Huỳnh Văn Trân, 34 tuổi, ngồi trên 1 băng ghế gỗ ở trại tị nạn Songkhla ở 1 bờ biển cực nam của Thái Lan, thuật lại câu chuyện của mình lần thứ ba.
Anh ra đi trên một chiếc tàu gồm 62 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Họ may mắn gặp thời tiết và gió thuận lợi, và không bị rắc rối gì về máy tàu. Vào ngày thứ 5 trên biển, một chiếc tàu mã lực lớn dài 15 mét đến cặp sát mạn tàu anh. Có 12 người đàn ông trên thuyền, tất cả đều trang bị vũ khí đầy đủ. Trước hết, chúng ra lệnh cho hai người trong số phụ nữ sang tàu chúng. Một trong hai người này là vợ anh Huỳnh Văn Trân. Cô này bị ghì chặt xuống, súng trường kê sát thái dương, và bị ra lệnh không được kêu la. Cô bị chúng cưỡng hiếp. Bọn hải tặc sau đó nhảy qua tàu tị nạn, cướp đi mọi thứ có giá trị, bắn một người đàn ông còn do dự khi chúng cướp. Sau đó chúng tăng tốc độ phóng đi với các món của cải chiếm được, nhưng thình lình quay ngoắt lại. Vẫn giữ nguyên tốc độ tối đa, chúng nhắm thẳng vào tàu tị nạn và đâm mạnh. Chiếc tàu hải tặc đã lập đi lập lại hành động này trong khi nhóm người tị nạn đang hốt hoảng ngoi ngóp giữa biển khơi. Bọn cướp biển cố ý lái tàu cán qua vô số chiếc đầu đang nhấp nhô, có lẽ vì không muốn để sót lại nhân chứng nào. Khi vợ anh Trân còn đang chới với trên mặt nước, với đứa con trai mới lên 3 đang níu chặt cổ mẹ, cả hai đã bị tàu cán qua và chết đuối. 10 người trong số họ sống sót, sau đó được vớt lên và đưa tới Songkhla.
Toàn thể thính giả đều nín lặng. Ðó là một câu chuyện thương tâm hơn những chuyện khác, nhưng hẳn nhiên không phải là ngoại lệ, hiếm có. Có rất nhiều tàu tị nạn đã bị hải tặc tấn công nhiều hơn một lần.”
UNHCR: 1979
Bao nhiêu thuyền nhân đã chết ngoài biển khơi? Không ai biết chắc cả. Nhiều người nói với chúng tôi rằng có lẽ 5% các tàu rời Việt Nam đã bị mất tích, nhưng nhiều người lại cho là có đến 70% tàu không hề đến được bờ.
Delegates of ‘Society of Friends’: Pulau Bidong, 1979
Georgina Ashworth The boat people and the road people
Trong vài năm đầu những thuyền tỵ nạn còn được tiếp đón tử tế bởi dân chúng và chính phủ các nước láng giềng nhưng vì làn sóng tỵ nạn ngày càng nhiều nên những niềm nở ban đầu đã bị giảm xuống hoặc tệ hơn đã bị thay bằng thái độ xua đuổi như đã từng xẩy ra ở Thái Lan, Mã Lai. Tầu của người tỵ nạn, khi bị tầu hải quân Mã kéo trở ra hải phận quốc tế có một số đã bị chìm và làm chết oan một số người. Do đó nếu như may mắn không bị bắt lại, thoát được gió bão, không hư máy dọc đường và không gặp hải tặc các thuyền nhân vẫn chưa chắc sẽ đến được các trại tạm cư. Ðó là chưa kể đến những khó khăn về đủ mọi phương tiện từ vệ sinh, y tế, nước uống, thực phẩm…nơi các trại tỵ nạn. Thật ra dùng chữ trại tỵ nạn cho lịch sự vậy thôi chứ vào thời điểm ấy không một quốc gia nào có thể lường được là con số người chạy cộng sản, bỏ nước ra đi sẽ đông đến như vậy. Do đó chẳng có quốc gia nào đã có những sửa soạn để có thể đón tiếp một số lượng người đến quá ào ạt và nhiều đến thế. Trại tỵ nạn đã là những kho xưởng, những trại lính, những chiếc phà cũ, những chiếc phao nổi, những hòn đảo san hô hoặc đảo hoang, nhỏ nằm chơ vơ giữa đại dương. Ðặt được chân trên đất là phải đi tìm cỏ, đốn cây để dựng lều để tạm trú tránh cái nóng ban ngày và cái lạnh ban đêm….Còn nhiều nhiều nữa, kể sao cho hết những cái khổ của kiếp lưu vong. Ðến năm 1988 vì quá mệt mỏi với số người tỵ nạn phải cưu mang trên hơn mười năm, Cao Ủy tỵ nạn và các quốc gia có trại tạm cư đã quyết định áp dụng hệ thống thanh lọc để xác định tư cách tỵ nạn chính trị của các thuyền nhân nếu họ đến sau ngày 16-6-1988. Quyết định này cũng đã gây ra khá nhiều thảm cảnh rất đáng thương như được kể lại dưới đây.
Sau đây là vài trích đoạn về những thảm cảnh đầy nước mắt đó.
“0 giờ ngày 16-6-1988 mở đầu một định mệnh khác cho những người Việt Nam vượt biển đến Hồng Kông. Kể từ ngày này họ sẽ bị đối xử như những người nhập cảnh bất hợp pháp và phải chờ chính phủ thanh lọc để xác định tư cách tỵ nạn chính trị, trước khi được cứu xét cho đi định cư ở nước thứ ba. Thời điểm phủ nhận ý nghĩa ban đầu sự ra đi của người vượt biển. Thời điểm đánh đổ mọi luận cứ sắp sẵn về quyền tỵ nạn, về quyền đi tìm chỗ trú, và đồng thời che dấu luôn sự bất lực của con người trước thảm cảnh của đồng loại, sự hấp hối của lương tri trước nỗi khổ của những cuộc khởi hành muộn. Như một tấm màng nhện giăng ra chận bắt những cuộc đời lưu lạc, thời điểm 16-6 dựng nên những trại giam khổng lồ trên khắp thuộc địa Hồng Kông, ghi thêm một thảm cảnh thời đại.”
Lê Ðại Lãng – NƯỚC MẮT TRONG TIM
Ngày 12/4/1992, Nguyễn Văn Quang, một hạ sĩ thuộc Tiểu đoàn 1 Không vận của Nam Việt Nam, đã treo cổ tự tử ở trại Galang, Nam Dương, sau khi bị khước từ tư cách tị nạn chính trị, và đơn kháng cáo của anh cũng bị bác. Anh mất đi để lại 1 góa phụ và 3 đứa bé mồ côi cha còn nhỏ dại.
Ngày 30/8/1991, tại trại Galang, Nam Dương: cô Trịnh Kim Hương, 28 tuổi, tự thiêu sau khi bị phủ nhận tư cách tị nạn chính trị.
Hoàng Thị Thu Cúc, 26 tuổi, một trong số vài người sống sót khi vượt biên khỏi Việt Nam. Cha cô là lãnh tụ của một chính đảng chống cộng và đã chết trong ‘trại cải tạo’ của cộng sản. Gia đình cô bị trục xuất khỏi nhà, tới một trại lao động cưỡng bức. Bản thân Cúc cũng bị đuổi khỏi trường vì ‘lý lịch gia đình xấu’. Bất kể những sự kiện trên, cô vẫn bị khước từ quy chế tị nạn. Tháng 12/1992, khi đơn kháng cáo của cô cũng bị bác bỏ, cô đã treo cổ tự tử, để lại bốn anh em trai ở trại Sikiew, Thái Lan.
Vụ tự sát của Lâm Văn Hoàng, 22 tuổi, đã gây nên một cuộc biểu tình phản đối ở trại tị nạn Pulau Bidong, Mã Lai. Anh đã lao mình từ vách đá xuống biển, sau khi bị từ chối tư cách tị nạn chính trị vào tháng giêng năm 1991.
Trần Văn Minh, cựu Trung úy, treo cổ tự tử ngày 10/10/1992. Ông được cấp quy chế tị nạn chính trị, nhưng người con trai Trần Minh Khôi, 18 tuổi, đã bị rớt ‘thanh lọc’. Vì Khôi không có 3.000 đôla Mỹ mà các viên chức duyệt xét đòi hỏi, đơn kháng cáo của anh sau đó cũng bị bác.
Ngày 8/12/1993, Trần Anh Dung từ trần khi lên cơn suyễn, sau khi Cao ủy tị nạn Liên Hiệp Quốc (LHQ) đóng cửa trạm y tế duy nhất trong trại tị nạn.
Tháng 2/1993, Lưu Thị Hồng Hạnh, một em gái 16 tuổi không người thân thích, đã tự thiêu sau khi Cao ủy tị nạn LHQ rút lại quy chế tị nạn của em.
“Chị thương, hôm nay em đã bị từ chối tư cách tị nạn chính trị. Rạng sáng mai, em sẽ treo cổ tự tử để thoát mọi đau khổ. Nhưng lúc nào em cũng sẽ ở bên cạnh chị để che chở cho chị và các cháu”
(Thư tuyệt mệnh của anh Nguyễn Văn Hai, 27 tuổi, viết cho chị, vào buổi tối trước khi tự tử trong Trại cấm Whitehead, Hồng Kông, ngày 16/2/1990.)
“Bản tường trình của luật sư đã khiến tôi phải sống trong lo sợ. Nó đã dần dần đẩy tôi vào chỗ chết.”
(Trịnh Anh Huy, 20 tuổi, tự thiêu ngay trước văn phòng của Cao ủy tị nạn LHQ ở Galang, Nam Dương, ngày 27/8/1992.)
“Tôi chết đi không phải vì tuyệt vọng, mà vì tôi muốn đem lại niềm hy vọng và sự sống cho nhiều người khác.”
(Vài hàng tuyệt mệnh của Nguyễn Ngọc Dung, 25 tuổi. Ngày 3/5/1993, anh đã tự đâm vào tim và chết tức khắc trước văn phòng Cao ủy tị nạn LHQ tại trại Sungei Besi, Mã Lai.)
Lời Kết
Cuộc Di Tản và Vượt Biên sau ngày 30 tháng tư năm 1975 là một bản án muôn đời đối với chính sách vô nhân đạo của Cộng Sản Việt Nam. Những cảnh tượng đau thương, kinh hoàng mà người Di Tản và Vượt Biên phải gánh chịu thật không bút nào ta hết. Tuy nhiên trong biến cố đầy bất hạnh đó, cũng không thiếu những tấm lòng bao dung, thể hiện rõ tình người, của binh sĩ và dân chúng Hoa Kỳ cũng như các quốc gia trong thế giới tự do, nhất là các nước vùng Đông Nam Á đã bao dung chúng ta tại các trai tị nạn.
Chúng ta mang ơn dân chúng và chính phủ các quốc gia đã cưu mang người Việt tỵ nạn, giúp chỗ tạm cư, cho phép định cư hoặc đã cứu vớt tầu tỵ nạn khi lạc lối, hết lương thực hay máy tầu bị hỏng. Chắc chắn là sự thành công của thế hệ thứ hai trong Cộng Ðồng Người Việt Hải Ngoại, sẽ không bao giờ xảy ra nếu không có sự cưu mang của các quốc gia trong Thế Giới Tự Do vào thời điểm đen tối đó.
Ngày hôm nay, sau hơn 30 năm tỵ nạn, viết lại một phần nhỏ trong những nỗi khổ đau của dân tộc để chúng ta ôn lại và ghi nhớ một sự kiện lịch sử không phải là của riêng Việt Nam, mà là của thế giới, trong đó chính chúng ta vừa là tác nhân, vừa là nhân chứng.

Hơn 30 năm sống lưu vong, lúc nào đa số chúng ta cũng vẫn mong có ngày trở về để góp phần xây dựng lại quê hương lạc hậu, giúp cho dân tộc ta sớm được sống trong không khí Tự Do, Dân Chủ đích thực mà dân ta chưa bao giờ được hưởng.
Ðiều này chỉ có thể xảy ra khi người Việt trong và ngoài nước thật tâm đặt quyền lợi của Tổ Quốc lên trên mọi quyền lợi riêng tư và thoát được sự chi phối của các thế lực chính trị quốc tế.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tran Gia Phung – Speech Delivered at Montreal, Canada on April 30, 2002
Nguyễn Văn Canh – Cộng Sản Trên Ðất Việt – Kiến Quốc 2003
Ashworth Georgina – The Boat People and The Road People – Quartemaine House 1979
Phạm Hữu Trác – Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do – VÀNG MÁU và NƯỚC MẮT: Khảo Sát Về Tù Cải Tạo và Vượt Biên Trong Giới Y Sĩ – 2000
Paul Anthony – Why They Flee Their Homeland – Reader’s Digest December 1979
Grant Bruce – The Boat People: An ‘AGE’ Investigation – Penguin Books 1979
Hawthorne Lesleyanne – Refugee The Vietnamese Experience – Oxford University Press 1982,
Wain Barry – The Refused: The Agony Of The Indochina Refugees – Simon & Schuster 1981
Lê Ðại Lãng – Bút Ký Hồng Kông: NƯỚC MẮT TRONG TIM – 1990, p.
Support Committee for Refugees from Vietnam – Vietnamese Boat People: A CRY TO HUMANITY – 1994

http://nguoiviethaingoai.org/ditan.html
Tấm Lòng Biển: Hồi ký của một thuyền nhân Việt Nam
Tấm Lòng Biển, một hồi ký về chuyến hải hành vượt biên của nhóm thuyền nhân người Việt năm 1985, những người may mắn thoát khỏi bàn tay tử thần nhờ lòng nhân từ của một thuyền trưởng người Đại Hàn, đã ra mắt độc giả tại California vào tháng 8 năm nay. Ngay trong lời giời thiệu, cuốn sách được nói đến như lời kể chuyện chân thành và giản dị, nêu cao tấm lòng bác ái trong một con người bình dị và cũng chính tấm lòng đó đã đưa đến một câu chuyện thật đẹp về tình người, về sự biết ơn và tình bạn đã nảy sinh giữa ân nhân và người thụ ơn. Câu chuyện bắt đầu năm 1985 khi chiếc ghe mỏng manh chở 96 thuyền nhân vượt biên trốn chạy chế độ cộng sản Việt Nam, hư máy, lênh đênh trên hải phận quốc tế đã bị nhiều tàu bè qua lại dửng dưng bỏ đi không vớt. Trước cơn bão dữ sắp sửa ập tới, thuyền trưởng một tàu đánh cá của Nam Hàn không đành đoạn quay lưng lại trước đám người khốn khổ đó, đã cương quyết bất chấp lệnh của công ty và có lẽ cũng là chính sách của nhiều quốc gia lúc bấy giờ, đã quá mệt mỏi trong việc cưu mang luồng sóng thuyền nhân Việt Nam bỏ nước ra đi nhất quyết quay tàu lại, hạ lệnh cho thủy thủ vớt những người này lên tàu, chăm sóc chu đáo cho họ cho đến khi tàu về tới hải khẩu Pusan và thuyền nhân được đưa vào trại tỵ nạn an toàn tại Nam Hàn. Trong câu chuyện, tác giả Nguyễn Hùng Cường còn nhắc tới sự kiện mà thuyền nhân sau khi được tàu đánh Kwang Myung 87 vớt, đã chứng kiến cảnh các thủy thủ kết một tấm bè, và họ lo ngại không biết có phải bè được kết để thả họ trở lại biển khơi hay không.
Đến sau này khi tác giả gặp lại,và được vặn hỏi, thuyền trưởng mới thổ lộ cho biết là vớt các thuyền nhân, ông đã 2 lần bất tuân thượng lệnh, lần thứ nhất là cứu thuyền nhân lên tàu, lần thứ hai là họ buộc ông phải kết bè, thả những thuyền nhân đã được cứu vào một hoang đảo gần nhất. Ông không tuân lệnh, nên đã bị mất việc. Ông không hề ân hận dù sau đó cuộc sống của ông gặp nhiều gian nan. Suốt gần 3 năm ông bị phạt không được lái tàu nhưng đến năm 1993 ông đã trở lại công việc này, làm cho nhiều hãng tàu khác nhau, lái tàu trên vùng biển Ấn Độ Dương, và hiện nay thuyền trưởng Jeon Jee Yong đã về hưu. Ông gây một trại nuôi hải sản và sinh sống bằng nghề này, bên cạnh người vợ và cô con gái. Trong số những người được thuyền trưởng cứu vớt là ông Nguyễn Hùng Cường, tác giả cuốn sách.
Sau khi ổn định cuộc sống ở nước Mỹ, quốc gia cho ông tỵ nạn, và sau khi đón được vợ con sang đoàn tụ, tác giả, luôn bị thôi thúc phải gặp lại ân nhân, đã nhất định tìm kiếm. Cuối cùng ông đã toại nguyện. Cộng đồng người Việt đã long trọng tiếp đón, vinh danh vị thuyền trưởng tại Califfornia và báo chí của hai cộng đồng Việt-Hàn đã nhắc nhở đến câu chuyện cảm động này rất nhiều. Sau đó, tác giả lại sang Hàn Quốc để thăm viếng gia đình ân nhân rồi về hưu sớm để hoàn tất cuốn hồi ký và làm nhiều công tác thiện nguyện.
Câu chuyện đã được công ty Thúy Nga đưa lên một băng video. Còn cuốn hồi ký của ông Nguyễn Hùng Cường được đón nhận như thế nào?
Ông Cường nói: “Tôi rất mừng bởi vì lần đầu tiên tôi chỉ in ra có 1 ngàn cuốn và cho đến giờ phút này tôi đã được sự đón nhận nồng nhiệt của độc giả Việt Nam trên toàn thế giới, sách bán rất chạy.”
Hành động nhân ái, vị tha của thuyền trưởng Jeon Jee Yong và lòng biết ơn của thuyền nhân Nguyễn Hùng Cường đã gieo mầm cho một tình bạn khắng khít giữa hai người. Nhưng kết quả của cái hạt giống tốt đó đã không chỉ ngưng ở đây, nó còn lan tỏa đi xa hơn thế nữa. Sau buổi lễ vinh danh thuyền trưởng diễn ra tại California năm 2004, tình thân hữu giữa hai cộng đồng Hàn Việt ở Nam California ngày càng nảy nở.
Tưởng cũng nên nhắc lại câu chuyện của một doanh nhân Việt Nam mở khách sạn Ramada ngay giữa lòng khu phố của người Đại Hàn ở quận Cam, bang California đáng lẽ sẽ khó làm ăn, nhưng ông Cường cho biết:
“Ban đầu thì anh ấy mở dịch vụ khách sạn ấy ở ngay giữa lòng khu phố của người Đại Hàn và anh rất là lo bởi vì không biết là có thành công hay không. Nhưng với sự chịu khó làm ăn, và nhất là sự tiếp xúc rất khéo léo của anh, và đặc biệt là qua biến cố hai cộng đồng được tiếp đón vị thuyền trưởng người Đại Hàn thì không ngờ dịch vụ của anh chủ khách sạn đó đã gặt hái được thành công tốt đẹp.” Tác giả Nguyễn Hùng Cường cũng ôm ấp nhiều tâm nguyện khi ngồi viết cuốn hồi ký Tấm Lòng Biển. Dự tính thứ nhất mà ông đã thực hiện được, đó là gửi số lợi nhuận về giúp cho các cơ quan từ thiện tại Việt Nam qua các vị chân tu của các tôn giáo. Tâm nguyện thứ nhì là tìm người bảo trợ và người phiên dịch cuốn hồi ký từ Việt ngữ sang Hàn ngữ.
Ông Cường nói: “Tôi cũng đang cố gắng để mà thực hiện phần dịch thuật từ tiếng Việt sang tiếng Hàn cuốn Tấm Lòng Biển và dĩ nhiên tôi cũng sẽ dùng tất cả những lợi nhuận từ ấn bản bằng tiêng Hàn đó để giúp cho các học sinh nghèo khổ ở bên Hàn quốc mà tôi có thể dùng danh từ mà tôi gọi là bên ngoại, bởi vì đối với cộng đồng Việt Nam thì tôi gọi là bên nội, còn đối với cộng đồng của đất nước Nam Hàn thì tôi gọi là phía bên ngoại. Và tôi cũng sẽ làm tâm nguyện của tôi đối với họ hàng bên ngoại là như vậy. Và cái tâm nguyện thứ ba là nếu trường hợp sau này kết quả đối với cái hãng phim ở bên Đại Hàn như họ từng có đặt vấn đề với tôi, họ muốn quay một cuốn phim từ cuốn Tấm Lòng Biển này thì tôi cũng đã chuyện trò với họ và cũng đã được họ chấp thuận. Tuy nhiên, thủ tục thì chưa đến giai đoạn cuối bởi vì cần phải có những thủ tục về pháp lý thành ra tôi cũng chưa biết là nó sẽ đi về đâu. Tuy nhiên, nếu được kết quả qua kế hoạch để làm phim thì tôi cũng có thể dùng số tiền mà hãng phim có thể trích ra cho tôi để tôi làm một cái foundation, và foundation đó đứng dưới tên của tôi và đứng dưới tên của ông thuyền trưởng và tôi với ông thuyền trưởng sẽ dùng ngân quĩ của foundation đó để giúp cho cô con gái của ông thuyền trưởng được qua du học tại Hoa Kỳ theo như ý nguyện của cô ấy mà tôi đã biết.”
Và như hầu hết mọi thuyền nhân tỵ nạn, sau khi đến quốc gia mới để lập lại cuộc đời, ai cũng phải lo hội nhập và tất bật với công ăn việc làm và đủ mọi thứ chuyện. Nhiều người đã quên mất câu chuyện cũ, quên các bạn đồng hành và mất liên lạc với nhau. Câu chuyện của vị thuyền trưởng nhân từ được đưa lên video Paris By Night và trong cuốn hồi ký đã giúp nhóm thuyền nhân 96 người bắt liên lạc lại với nhau. Điển hình là anh Tính Trần, lúc ra đi mới 15 tuổi. Nay thì anh đã có vợ con và làm chủ một cơ sở làm ăn nhỏ, cuộc sống hoàn toàn ổn định.
Anh nói lên cảm nghĩ sau khi xem cuốn băng video và cuốn Tấm Lòng Biển: “Coi cuốn Paris By Night không thôi đã thấy ngậm ngùi rồi. Đọc cuốn sách còn ngậm ngùi hơn nhiều tại vì trong cuốn sách có nhiều chi tiết mà chú Cường liên lạc với ông thuyền trường, người mà mình chịu ơn người ta quá nhiều mà cuối cùng không tài nào kiếm được, chỉ có chú Cường chú ấy bỏ nhiều công sức và thời giờ ra đi kiếm thì chú ấy mới kiếm ra. Đọc thì ngậm ngùi lắm. Cái điểm làm xúc động nhất là ông thuyền trưởng giúp mình mà cuối cùng vì mình mà ông ấy mất việc làm, thì mới cảm thấy là ông ấy hy sinh vì mình quá nhiều mà đôi khi mình là người mang ơn mà không biết tới.”
Anh Tính cũng cho biết về ước nguyện của anh đối với vị ân nhân cứu tử. Anh nói: “Em đã nói với chú Cường là ráng làm sao mà gây được một cái quĩ nào để anh em thuyền nhân của mình trong khả năng nhỏ bé của mỗi người mà trả ơn cho người đã cứu vớt mình.”(VOA)
Mời các bạn cùng xem để thấy chính mình trong đó:
http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=6218

http://vanghe.blogspot.com/2011/10/thuyen-nhan-viet-nam-1.html

This entry was posted in vietnamese. Bookmark the permalink.

One Response to Thuyền nhân Việt Nam (1)

  1. lam tran says:

    cộng sản châu á với lớp da lộng lẩy và đẹp đẻ nhưng toàn bộ bên trong là là một khối thịt đang ung thối nhầy nhụa với một lủ giòi bọ khủng khiếp ……

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s