Lú Đại Nhân – GS David Thiên NGọc

Lú Đại Nhân.

GS David Thiên NGọc

Bài viết dành cho kẻ bò qua Tàu nhận chiếu chỉ “dâng nước cầu vinh”

-Chuyện kể rằng vào thuở xa lơ xa lắc…nơi một đất nước mà mọi người đứng nhìn về cõi ngàn xa…cuối tầm mắt thì thấy đất và trời như chạm vào nhau. Do đó ai ai cũng nghĩ rằng xứ sở của họ sắp trở thành thiên đường…đất và trời sắp hòa hợp, Càn Khôn hội tụ một nhà. Cái lằn ranh xa xa đó sắp được xóa đi và đường lên trời “thênh thang tám thước” mặc tình ta cứ bước. Có một điều mà bá tánh ở xứ này ai cũng nơm nớp trong lòng, nửa lo, nửa mừng khấp khởi rằng mình sắp sửa thành Tiên…điều mà từ trước giờ chỉ xuất hiện trong những câu chuyện thần thoại, cổ tích mà người lớn kể cho lũ trẻ con, đám mục đồng nghe trong những đêm trăng trải vàng khắp nẻo…khi gió thu về man mác, se se…phảng phất thơm mùi lúa chín cùng với vạn vạnánh lập lòe phát ra từ những bầy đom đóm chập chùng hòa lẫn với ngàn sao dưới làn sương mỏng. Bây giờđất nước này sắp (sắp thôi) trở thành thiên đường vìđã qua thời kỳ quáđộ.Và tất nhiên mọi người cũng sẽ thành Tiên.

Nói đến đây thì ai ai dưới bầu trời hiu quạnh này cũng đều rõ. Nhân dân xứ sở sắp thành thiên đường ấy thật hiền hòa chất phát, chất phát như củ khoai lang, khoai mì. Và cái xứ sởấy sau này được gọi là Xã Nghĩa. Mọi người được cai quản và chăn dắt bởi một vị có tư chất vô cùng thông minh và uyên bác. Mọi luồng suy nghĩ của vị này lóe lên như sấm sét từ trời, lời nói ra sáng tỏa tựa như kinh. Ai đó nhắc đến ngài cũng chỉ nói lên hai tiếng là “đại nhân” chứ thật ra tên của ngài đố ai mà biết được! cái tên, cái tuổi của ngài nó huyền ảo như sương sớm chiều đông, như sấm chớp trong mùa mưa bão, vật vờ như ma trơi nơi nghĩa trang chạng vạng hoàng hôn…

Một ngày nọ-Gia đình trưởng làng Xã Nghĩa có việc bế tắt mà không một ai có thể khai thông.Thế là dân làng khăn gói, xôi oản vịt gà… tìm đến hang động của ngài trúẩn để dâng lên làm lễ vật và khẩn cầu thánh nhân hạ cố. Nghe đâuở tận hang cùng Bắc Pó, Bắc Cạn, Bắc Sâu… nơi thâm sơn cùng cốc. Hàng ngày tối ở trong hang sáng ra bờ suối mài gươm luyện chưởng…

Sau trăm vái nghìn van…Đại nhân mới rủ lòng ban ơn mưa móc nhận lời quáđộ vềlàng. Trên đường trở về nhân dân chạy bộ phía trước, đại nhân tọa thị trên một bành voi lớn theo sau. Từ thuở sơ khai, xứ sở nghèo nàn, đường sá chưa thông, chật hẹp (chỉ cóđường lên trời là thênh thang… kỳ nhân La Thăng La Thứ, La To… gìđều chưa xuất hiện) nên bành voi của đại nhân đi đến đâu thì cây cối, hoa màu, vườn tược, nhà cửa của nhân dân nơi đó phải phá bỏ dọn đường, “san bằng cưỡng chế” cho voi ngài tiến bước. Vềđến đầu làng qua khỏi ải Môn Quan, cổng chào phải phá bỏ, tấm bảng “Thiên đường Xã Nghĩa” cũng hạ xuống vứt đi. Tường thành che chắn, ngừa chống các bộ lạc Man Di từ Bắc phương tràn qua xâm chiếm cõi bờ cũng phải đập pháđể rước voi vào. Rước voi vào được đến sân nhà thì biên cương, làng mạc, mồ mả Tổ Tiên đều đã bị dày xéo tan hoang…

Việc thế này! Khổ chủ, nhà có nuôi một bầy dê. Bữa nọ con dêđầu đàn thuộc dòng giống bên Tề, bên Sở rất quí, lẻn vào nhàđút đầu vào cái ang (cái chum) đựng thóc lúa màăn (ăn lén, ăn vụng, rút ruột màăn). Chẳng may khi chủ nhà phát hiện thì con dê Tàu ấy vội vã rút đầu ra để chạy thì hai cái sừng mọc ngược như hai cái móc câu vướng vào miệng ang không tài nào rút đầu ra được. Thế là dê Tề, dê Sở vẫy vùng, vung vãi lúa thóc (tài sản, tài nguyên…) tứ bề…mà cái ang lúa vẫn chụp cứng trên đầu như chiếc vòng kim cô của Phật Bà Quán Thế Âm Bồ Tát siết đầu Tôn ngộ Không thuở trước. Gia chủ và cả làng không ai tìm ra giải pháp và cuối cùng là phải khăn gói lên đường, mang lễ vật thỉnh cầu rước đại nhân quáđộ giải nguy.

Sau buổi tiệc tẩy trần long trọng, lễ vật được dâng lên lần nữa, chủ gia làng trưởng giải trình cớ sự.Lúc bấy giờđại nhân mới ghé mắt nhìn vào sự việc và phán như sấm truyền.

– Gia chủ đâu! Cho người chặt đầu con dê. Dân làng đồng thanh hô lên.

– Đại nhân anh minh! Đại nhân anh minh!

Thế làđầu con dê rời khỏi cổ. Dòng dõi bên Tề bên Sở đành phải chịu kiếp “sinh Bắc, tử Nam”.

Thế nhưng cái đầu dê từ Bắc phương ấy cứ bùng nhùng không thể nào thoát ra khỏi cái ang…như gà mắc tóc. Mọi người loay hoay dùng đủ phương cách nhưng vẫn không xong, không dám mạnh tay vì sợ “bể ang, vỡ bình”. Gia chủ và mọi người tỏ vẻâu lo…-Sự việc chưa dừng lại nơi đó-và mọi người lại cầu khẩn đại nhân gia hộ cho thêm cao kiến.Đại nhân phán tiếp.

-Người đâu! Cho đập bể cái ang! Thế là cái đầu dê Tàu lăn lóc ra ngoài mà cặp mắt vẫn trừng trừng trắng dã như oán như hờn nhân dân làng xã Nam phương. Dân làng được sức hoan hô vỗtay nồng nhiệt…nhờ diệu kế của đại nhân mà khai thông bế tắt. Dân làng lấy đầu dê Tàu cùng huyết tươi mở tiệc ăn mừng “đại cuộc thành công rực rỡ” và say sưa với  Mao Đài tửu, ngoài trời vào tiết lập xuân mưa phùn rơi lất phất…. Chuyện chặt đầu Dê Tàu, đập ang Xã Nghĩa cũng giống như gần đây họ đập bầy chuột phá hoại cửa nhà và phải “đập vỡ cái bình” để giết con chuột chù, chuột chúa vậy.

Tàn tiệc! Mọi việc đều xong, dân làng trên dưới một lòng phục tài thánh nhân từ hang Bắc Pó. Đại nhân trở gót! khổ một nỗi bành voi của đại nhân quá “vĩ đại” nên khó bề xoay trởđể quay đầu. Thế là nhà cửa thành quách, tường cao, vườn tược, gia sản chủ gia Xã Nghĩa phải thêm một phen bịđập phá tan hoang.Đại nhân trên bành voi ban xuống “rồi đây ta sẽ xây dựng lại bằng mười hơn xưa…”.Thớt voi từ từ chuyển bước.

Đại nhân lẫn voi vừa ra đi, kẻở lại bùi ngùi…người người phục tài đại nhân “thông thiên, đạt địa”. Bỗng chủ gia rẽđám đông, tay lôi thằng con chạy theo sụp quì trước đầu voi lạy mà rằng:

-Trăm lạy đại nhân, ngàn lạy đại nhân. Ngu dân nhận thấy cả trong trời đất chưa có vị thánh nhân nào thông minh dĩnh tuệ như ngài. Bần dân có một mụn con trai tục danh là “tiểu Lú” tư chất ngu đần. Cúi xin thánh nhân thâu nhận cho làm đệ tử, khăn túi sớm hôm cho ngài mong một ngày nào đóđược ngài khai tâm, mở trí hòng móđược chút bã Rồng, hưởng được chút nhớt thoát ra từ Long thể. Nếu được hồng ân bần nhân cùng toàn dân Xã Nghĩa đội ơn ngàn kiếp – đoạn dập đầu mà lạy…lạy mãi không thôi.

Trên bành voi, đại nhân một thoáng nhìn trời…đắn đo suy nghĩ giây lát rồi phán rằng:

– Thôi được! Ta vì nghĩa mà thâu nhận cho ngươi, và chỉ lần này thôi là ta về bế môn (đóng cửa hang) luyện “Đạo” ( luyện nghề trộm cướp).

– Trăm lạy, ngàn lạy tạơn đại nhân. Dân làng Xã Nghĩa nguyện một lòng làm thân trâu ngựa, “kết cỏ ngậm vành”đểđền nghì thánh ân…rồi lạy thêm một hồi nữa mới lui gót về làng với cảnh trong ngoài tiêu điều xơ xác.

Bành voi đi trước, Lú tiểu đồng đầu ba vá lúp xúp chạy theo sau.

Dưới gốc cây đa Tân Trào.Voi dừng chân cho thánh nhân nghỉ mát.Để giải cơn khát dưỡng sức về lại hang sâu…đại nhân truyền Lú tiểu đồng đun nước nấu chè xanh-“Trảm Mã Trà” từ động Bắc Phương ban tặng. Để thử xem tài trí của hậu duệ mai sau, đại nhân lệnh cho tiểu Lú trèo lên cành cao của cây đa Tân Trào mà cưa cành cây tươi làm củi đun nước, đồng thời căn dặn rằng khi cưa là phải ngồi bên ngoài cành cho an toàn và cưa ở phần trong. Do đó khi cành gãy tất nhiên rơi cả người lẫn cành xuống đất. Thế là tiểu Lú hóa kiếp dưới gốc đa Tân Trào bởi sự chỉ dạy vô cùng thông minh của đại nhân Bắc Pó. Hôm đó nhằm ngày 14/4/1944, hồn tiểu Lú bay về nhập xác đầu thai tại làng Đông Hội, phủĐông Anh thành Hà tức Hà Nội ngày nay.

Một đứa bé mặt mũi bèm hem, đôi mắt đần đờẩn chứa một đám mây đen…bởi cái chết “bất đắc kỳ tử” nên khi hồn lìa khỏi xác trong trạng thái bấn loạn từ ngọn cây đa Tân Trào rơi tự do xuống và trào ra hết những gì trong người hắn có. Do đóđứa bé này còn lú nặng hơn tiền kiếp vàđược mẹ cha đặt tên theo hình dạng là “Trọng Lú” trong ý nghĩa là “Lú Nặng” không phương cứu chữa.

Nói về đại nhân hang Bắc Pó-Sau khi Tiểu Lúđệ tử hóa kiếp thì hắn ta thu nộp thêm một sốđệ tử nữa mà chủ yếu làở hạng bần cùng khố rách áo ôm, thiếu ăn thiếu học, trong người không một “Đồng Chinh” dính túi như dân gian thường gọi. Cộng thêm hàng mạt hạng tả tơi áo quần không còn “manh Giáp” mà truyền thụ tinh hoa và từđó đem lại bao quang vinh làm tiêu điều cho Xã Nghĩa. Cả bầy đàn không một “Đồng Chinh” dính túi vàáo quần không còn manh “Giáp” thi nhau đem tài trí của đại nhân hang Bắc Pó mà xây đắp thiên đường để biến mọi người thành Tiên. Nhưng trước khi muốn thành Tiên thì phải thoát xác phàm do đó chúng đã cuồng điên nướng trên năm triệu sinh linh vào chảo lửa Trường Sơn mà không một mảy may hối tiếc (Non, Je ne Regrette rien. Non, pas du tout !) để cho những linh hồn đó phải làm ma không nhà, vật vờ phiêu diêu nơi rừng núi bãi bờ…

Kế tục sự nghiệp của đám tả tơi manh Giáp, không Đồng Chinh dính túi thì “Trọng Lú” thể hiện bản chất “Lú hơn người”, “lú vượt bậc” không hổ danh là “Trọng Lú” tức là “Lú nặng”. Trong thời gian này nhân dân Xã Nghĩa để vinh danh Trọng Lú nên không dám gọi đúng tên e rằng “phạm húy” cho nên tôn cho hắn danh xưng là “LúĐại Nhân” để ghi công đức của hắn đãđem hết sức khuyển mã của mình (thực chất hắn đúng là chó, ngựa) để biến cả bá tánh Xã Nghĩa trở thành Tiên. Cóđiều bất hạnh cho dân Xã Nghĩa là hiện tại có hai loại Tiên.Đám cháu con đại nhân hang Bắc Pó và dòng họ bèlũ phe cánh, đảng phái của “Lú nặng” là loại “Tiên Huyền” nên bạc tiền không những đầy túi mà làđầy kho cũng nhờ quyền phép thiên biến vạn hóa nhiều năm luyện ở hang sâu. Biến của công thành của tư, biến của mọi người…thành của riêng mình. Còn lại nhân dân Xã Nghĩa cũng thành Tiên mà là loại “Tiên Khồng” cho nên không một đồng dính túi. Bởi thế dân gian mới ca thán rằng:

“Bỏ cực mà chạy lên non.

Quay lưng nhìn lại cực còn theo sau…” (ca dao)

Bởi:

Từ Bản giốc đến Cà Mau…

Thành Đô chiếu chỉ: – Thuộc Tàu từ đây!

Chicago, IL USA April 11.2015

GS David Thiên NGọc

This entry was posted in vietnamese. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s