Trần Trung Đạo: Chọn lựa của đời người

Trần Trung Đạo: Chọn lựa của đời người

Nỗi lo sợ lớn nhất của một nhà tranh đấu cho tự do dân chủ của một đất nước không phải là sợ bị tù mà bị sống lưu vong, bởi vì với phần đông, đi là hết.
Boris Pasternak không phải là nhà đấu tranh chính trị nhưng khi bị hăm họa nếu đi nhận giải Nobel văn chương có thể không được phép trở về Nga, ông từ chối đi nhận giải. Aung San Suu Kyi được phép đi thăm chồng bịnh nặng nhưng có thể không được trở về, bà đành chịu không thấy mặt chồng còn hơn phải rời Miến Điện. Nhắc lại, năm 1997, chồng bà, Tiến sĩ Michael Aris, bị ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn cuối nhưng bị chính phủ quân phiệt Miến từ chối cấp giấy phép nhập cảnh thăm bà và cuối cùng Michael Aris đã chết ở Anh Quốc đúng trong ngày sinh nhật của ông không có mặt vợ.
Vùa Hàm Nghi của Việt Nam mình là bài học khác. Trong suốt ba năm từ 1885 đến 1888, chịu đựng bao gian truân đói khổ trong rừng núi Quảng Bình, nhà vua không hề than van và ngay cả khi bị bắt vị vua 17 tuổi còn mắng vào mặt Việt gian Trương Quang Ngọc “Mi giết ta đi còn hơn là mi mang ta ra nộp cho Tây”, nhưng khi bước xuống tàu Biên Hòa để bị lưu đày sang Algérie, ngài đã khóc. Giọt nước mắt của vị vua mất nước và cũng là một thanh niên Việt Nam chỉ mới 18 tuổi tuôn rơi chỉ vì phải rời xa tổ quốc thân yêu và một phần khác ngài cũng biết đi là hết, giấc mộng Cần Vương xem như chính thức cáo chung.
Trong giai đoạn từ 1975 đến nay, có hai nhà đấu tranh vì tự do dân chủ và nhân bản Việt Nam nổi tiếng nhưng có hai chọn lựa khác nhau: Giáo sư Đoàn Viết Hoạt chọn lựa ra đi và Bác sĩ Nguyễn Đan Quế chọn lựa ở lại.
Giáo sư Đoàn Viết Hoạt: Không thể ra khỏi nhà tù nếu thiếu điều kiện ra đi khỏi Việt Nam
Giáo sư Đoàn Viết Hoạt bắt đầu các hoạt động chống độc tài CS ngay sau 1975 và bị tù tổng cộng gần 20 năm:
- Lần thứ nhất: Ngày 29 tháng 7 năm 1976 ông bị bắt với cáo trạng “Tuyên truyền tư tưởng phản động chống phá Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”. Giáo sư bị CSVN giam giữ 12 năm không bản án. Ông ra khỏi tù lần thứ nhất ngày 9 tháng 2 năm 1988.
- Lần thứ nhì: Một năm sau, Giáo sư Đoàn Viết Hoạt góp phần thành lập nhóm Diễn Đàn Dân Chủ và sáng lập viên của tạp chí Diễn Đàn Tự Do. Ngày 17 tháng 11 năm 1990, ông bị CSVN bắt lần thứ hai. Tòa sơ thẩm CSVN ngày 31 tháng 3 năm 1993 kết án giáo sư 20 năm tù giam. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm sau đó, giảm án xuống còn 15 năm tù giam. Năm 1993, ông bị đưa sang trại tập trung lao động khổ sai. Ngay trong tù, ông đã tổ chức hoạt động đối lập và vì vậy, ông bị đưa đi giam giữ cô lập 4 năm liền tại trại giam Thanh Cầm, Thanh Hóa.
Giáo sư Đoàn Viết Hoạt đối diện với chọn lựa không thể ra khỏi nhà tù nếu không chịu rời bỏ Việt Nam, nhưng ông cũng chỉ chịu rời Việt Nam khi vợ, con và nhiều bạn bè khuyên ông nên chấp nhận ra nước ngoài. Năm 1998, từ nhà tù, ông được đưa thẳng tới sân bay Nội Bài để bay sang Mỹ.
Sáng 8 tháng 4, 2014 vừa qua, phái viên Kính Hòa của RFA phỏng vấn Giáo sư Đoàn Viết Hoạt về việc Cù Huy Hà Vũ được trả tự do và tức tốc đưa sang Mỹ. Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt phát biểu:
 “Tôi nghĩ rằng nếu có thể thì chúng ta nên ở lại để đấu tranh. Tôi cũng muốn sớm được trở lại để đấu tranh với các bạn trong nước. Và ở ngoài này thì chúng ta phải vận động để thả ở trong nước chứ không đưa ra ngoài. Mỗi một người đi ra ngoài là mất một chiến sĩ trong nước, mà chiến sĩ ở trong nước mới là chính. Ngoài này chúng tôi chỉ hỗ trợ thôi. Khi sang ngoài này thì chúng tôi làm hết sức mình để hỗ trợ trong nước. Tất nhiên trong nước là cái chính, chúng ta phải bằng mọi giá đấu tranh để Hà nội thả anh em ra trong nước. Và phải chấp nhận những tiếng nói đối lập để đi đến dân chủ một cách ôn hòa bất bạo động.”
Ông Phạm Văn Thành, một người đã từng ở tù chung với giáo sư Đoàn Viết Hoạt nhận xét trên Facebook về những lời phát biểu của giáo sư:
“Giáo sư Đoàn Viết Hoạt đã trả lời rất thực lòng. Với bản thân tôi, tôi luôn luôn giữ lòng kính trọng với các quyết định của ông, kể cả quyết định chấp nhận đi ra nước ngoài, một quyết định tôi biết là cực kỳ khó khăn đối với ông, người mà tôi trân trọng gọi bằng thầy xưng con ngay từ khi anh em chúng tôi đón nhóm của ông chuyển từ trại Z30D Hàm Tân vào trại Trừng Giới A20 Xuân Phước cuối năm 1993. Thời gian ở trại A20 Xuân Phước, ông là người nỗ lực không ngừng nghỉ trong mục tiêu nâng cao khả năng lý luận cho những anh em tù chính trị đã bị giam cầm quá lâu (từ 1977 /1980/1984). Vốn liếng văn hóa, chính trị, xã hội và quan hệ quốc tế của ông đã làm chúng tôi bật ngửa và đặc biệt nhất là sự can trường và ý nhị của ông. Trước sự đeo bám của an ninh trại, ông bất chấp những đớn đau sẽ đến với mình và liên tục tham dự các buổi họp nhóm với tất cả các anh em tù kỳ cựu tổ chức. Nhiều người trong nhóm (nhóm Diễn Đàn Tự Do) của ông đã phải tránh hẳn ông vì sợ sự liên lụy. Bối cảnh ấy, anh em võ biền chúng tôi mới thật sự kính phục người mà trước đó nhiều anh em có ý không phục vì ông có liên quan đến những nhóm phản đối chính quyền miền Nam VNCH trước 1975. Bối cảnh trại A20 Xuân Phước, một trại khét tiếng tàn khốc với gần hai ngàn nấm mộ số (tính đến 1994) đã giúp cho chúng tôi nhận ra giá trị thực thụ của một kẻ sĩ. Một bậc trí thức thực sự.” 
Về việc Giáo sư Đoàn Viết Hoạt ra đi. Cựu tù nhân chính trị Phạm Văn Thành cũng cho biết chính ông là người được giáo sư hỏi ý ngay khi ở trong tù. Hỏi ý nhiều khi không phải để nhận câu trả lời nhưng chỉ là cách để nhẹ những ưu tư đang đè nặng trong lòng.
Câu trả lời của giáo sư Đoàn Viết Hoạt và tiết lộ của một người ở tù chung nhiều năm với ông, cho chúng ta biết chọn lựa ra đi của ông là một chọn lựa khó khăn. Chọn lựa nào mà chẳng có hy sinh. Ông ra đi mang theo một niềm tâm sự luôn chôn giấu trong lòng và tâm sự đó đã nhiều đêm làm ông trăn trở. Ông cho nhiều người thân biết khi máy bay bay lên trời cao, nhìn xuống thấy đất nước xa dần ông đã bật khóc, không cầm được nước mắt. Bởi ngày trở lại không biết đến bao giờ. Ông không bao giờ muốn rời xa quê hương nếu được tự do lựa chọn. Như ông đã chọn lựa trở về Việt Nam sau khi học xong bằng Tiến Sĩ ở Mỹ. Và sau khi CS chiếm miền nam ông cũng đã quyết định ở lại quê hương để tiếp tục chiến đấu cho lý tưởng nhân chủ mà ông đã noi theo thân phụ ông từ khi còn trẻ.
Giáo sư Đoàn Viết Hoạt không phải là mẫu người hoạt động theo kiểu xông xáo đó đây nhưng là một nhà giáo dục, một cựu tù nhân lương tâm phát xuất từ miền Nam, một nhà tư tưởng, học ở Mỹ nên việc hội nhập vào sinh hoạt chính trị dòng chính Mỹ cũng như tham gia vào cộng đồng Việt Nam hải ngoại không mấy trở ngại khó khăn. Không giống như nhiều người tranh đấu khác chỉ tập trung vào các hoạt động có tính cách chiến thuật, ngắn hạn, giáo sư viết sách, phân tích tình hình quốc tế, sử dụng tích cực các mối quan hệ của cá nhân ông với quốc tế, đề nghị các chiến lược dài hạn cho các phong trào đấu tranh, vì thế, vai trò của ông tại hải ngoại có thể hữu hiệu không kém, nếu không muốn nói thuận lợi hơn, vai trò của ông khi còn ở trong nước.
Bác sĩ Nguyễn Đan Quế: Lưu đầy không phải là tự do
Một người bạn tù của Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế thì khác, ông đã chọn lựa sống chết với quê hương ngay trong giờ phút Sài Gòn thoi thóp thở cho đến hôm nay.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975, trong lúc nhiều người Việt Nam chạy ra sông, ra biển, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế đã chạy ngược dòng người, ông chạy về bệnh viện, nơi hàng trăm thiếu nhi Việt Nam bị thương tích và bệnh hoạn không có người chăm sóc, không có ngay cả một viên thuốc chống đau. Với chức năng của một bác sĩ và tình thương dành cho thể hệ thiếu nhi đang bị chế độ bỏ rơi, ông đã ở lại tiếp tục ngành chuyên môn của mình trong bệnh viện nhi đồng Sài Gòn. Tuy nhiên, một năm sau, trước những bất công, hà khắc mà chế độ CS áp đặt lên nhân dân Việt Nam một cách tàn nhẫn từ trong bệnh viện nơi ông làm việc cho đến ngoài xã hội, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế phát động cuộc đấu tranh vì tự do dân chủ và nhân bản cho dân tộc Việt Nam.
Từ đó, ông đã dấn thân vào hành trình tranh đấu cho một Việt Nam tự do dân chủ và nhân bản. Bác sĩ Nguyễn Đan Quế bị bắt nhiều lần và có những bản án kéo dài hàng chục năm qua nhiều trại tù lớn ở miền Nam:
- Lần thứ nhất: Mười năm, từ 1978 đến 1988, trong đó có thời gian dài bị biệt giam vì đã sáng lập Mặt trận Dân tộc Tiến bộ “với âm mưu lật đổ chính quyền cộng sản”. Không đưa ra tòa xét xử.
- Lần thứ nhì: Ngày 29 tháng 11 năm 1991, trong phiên tòa chỉ vỏn vẹn ba mươi phút, CSVN đã xử Bác sĩ Nguyễn Đan Quế 20 năm khổ sai và 5 năm quản chế vì “hoạt động lật đổ chính quyền”. Đến năm 1993, Bác sĩ Quế bị đưa đi lao động khổ sai ở trại K4 Xuyên Mộc (Bà Rịa) và ở trại K3 Xuân Lộc, cách Sài Gòn 80 cây số về hướng Đông Bắc. Mặc dù sức khỏe của ông ngày càng yếu, quản giáo CSVN vẫn tìm cách hành hạ ông bằng lao động khổ sai và biệt giam.
- Lần thứ ba: Bị bắt năm 2003 vì lên tiếng tranh đấu cho tự do thông tin và phát biểu. Lần nữa, trước áp lực quốc tế và đồng bào trong cũng như ngoài nước. CSVN đã buột phải thả Bác sĩ Nguyễn Đan Quế vào năm 2005.
- Lần thứ tư: Bị bắt vào cuối tháng 2 năm 2011, sau khi công bố “Lời kêu gọi toàn dân xuống đường cứu nước”. CSVN trả ông về nhà sau khi bị tạm giữ 48 giờ.
Năm 1998, trước áp lực quốc tế, chính quyền cộng sản đồng ý thả bác sĩ Nguyễn Đan Quế với điều kiện ông phải rời Việt Nam.
Với hai mươi năm tù tội, CSVN nghĩ rằng bác sĩ đã cạn kiệt tinh thần cũng như thể lực và phải chọn con đường bình an nhất cho những ngày tháng cuối đời là ra đi. Nhưng họ đã lầm. Bác sĩ Nguyễn Đan Quế từ chối. “Lưu đầy không phải là tự do” ông tuyên bố một cách khẳng khái. Tự do của một người chỉ trọn vẹn ý nghĩa nếu được tự do trên quê hương mình và cùng với dân tộc mình. Không có tự do dành cho những kẻ bị lưu đày. Cuối cùng, Cộng Sản đành thả ông và giam lỏng ông tại Sài Gòn.
Ngày 11 tháng 5 năm 2014 sắp tới đây đánh dấu 24 năm ngày Bác sĩ Nguyễn Đan Quế công bố Bản Tuyên Bố của Cao Trào Nhân Bản kêu gọi đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước, các chính phủ và nhân dân yêu chuộng tự do dân chủ khắp thế giới tích cực ủng hộ cuộc đấu tranh bất bạo động đòi hỏi nhà cầm quyền CSVN phải (a) Tôn trọng các nhân quyền căn bản của người dân Việt Nam. (b) Phải chấp nhận sinh hoạt chính trị đa nguyên. (c) Phải trả lại cho người dân Việt Nam quyền được lựa chọn một thế chế chính trị phù hợp với nguyện vọng của mình qua các cuộc bầu cử tự đó và công bằng dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc.
Hôm nay, bác sĩ Nguyễn Đan Quế đã 73 tuổi với gần một nửa đời người trong tù tội lao lung. Ngọn đèn nhân sinh có thể một ngày sẽ tắt nhưng ngọn đèn nhân bản ông thắp lên trong ngày 11 tháng 5 năm 1990 chẳng những không tắt mà mỗi ngày một sáng hơn. Hai mươi năm trước, phong trào xã hội dân sự tại Việt Nam chỉ có Cao Trào Nhân Bản và Diễn Đàn Tự Do, hôm nay hàng trăm nhóm, phong trào, mạng lưới internet, tập hợp xã hội dân sự đang được ra đời và phát triển. Con đường ông đi ngày đó chỉ có một vài dấu chân lẻ loi đơn độc, hôm nay, hàng trăm, hàng ngàn người cùng đi. Tuổi trẻ Việt Nam xem bác sĩ như là một người cha, người chú, một chỗ dựa tinh thần, một nơi để tìm nguồn an ủi trong những lúc khó khăn. Và Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, cũng giống như trong buổi chiều 30 tháng Tư, 1975 lại tiếp tục săn sóc, khuyên răn các em bằng đức tính khiêm cung và tấm lòng nhân ái.
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ và Mount Everest đang chờ 
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ là một người đa tài. Anh sinh ngày 2 tháng 12 năm 1957 tại xã Ân Phú, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh). Anh tốt nghiệp tiến sĩ luật học, thạc sĩ văn chương, họa sĩ nhưng được biết đến nhiều nhất như một nhân vật bất đồng chính kiến với nhà nước CSVN. Anh bị bắt ngày vào 5 tháng 11 năm 2010 tại Sài Gòn và bị khởi tố ngày 15 tháng 11 năm 2010 về tội danh quen thuộc của CS “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Anh bị kết án 7 năm tù. Phiên tòa ngày 2 tháng 8 năm 2013 giữ nguyên bản án. Tuy nhiên, trong lúc đang ở tù, anh Cù Huy Hà Vũ được CS phóng thích và cùng vợ đi thẳng sang Mỹ ngày 7 tháng Tư năm 2014.
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ ra khỏi nhà tù CS là một tin vui chung cho phong trào dân chủ Việt Nam. Cuộc vận động và tranh đấu thay mặt anh đã diễn ra không ngừng trên mọi lãnh vực, mọi bình diện, mọi phương tiện, mọi giới và mọi tầm vóc đã có hiệu quả. Trong nước Cù Huy Hà Vũ đã trở thành niềm thôi thúc của tuổi trẻ dấn thân. Ngoài nước, Cù Huy Hà Vũ đứng hàng đầu trong danh sách tù nhân mà các tổ chức nhân quyền dùng để gây áp lực cho CSVN. Phần lớn các nhà phân tích và đồng bào quan tâm đều nghĩ CSVN phải trả tự do cho anh sớm. Và họ đoán đúng. Tuy nhiên thay vì trở về với bạn bè cùng tranh đấu, với công cuộc vận động dân chủ đang quá cần anh, với phong trào bảo vệ Hoàng Sa Trường Sa mà anh từng gắn bó, anh được đưa từ nhà tù sang Mỹ ngay là một tin làm nhiều người ngạc nhiên. Không ít người thất vọng, lo lắng và ngay cả buồn phiền.
Lần nữa, chọn lựa đi hay ở là chọn lựa cá nhân. Nếu anh chọn ra đi để chửa bịnh và được sống bình an sau những năm tháng dài đấu tranh mệt mỏi ở Việt Nam thì đó là chọn lựa riêng tư. Mỗi người trong thế giới này có quyền chọn lựa một cách sống riêng cho mình và gia đình mình. Quyết định đó phải được tôn trọng. Đất nước Việt Nam là của 90 triệu người chứ không phải chỉ của một mình Cù Huy Hà Vũ. Và đừng quên, phong trào dân chủ từ thập niên 1990 đến nay có những lãnh tụ đấu tranh tưởng chừng như “gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo” đã tự biến mất đi không để lại một dấu vết gì. Thỏa hiệp, đầu hàng, mệt mỏi hay dù gì cũng không ai trách và sau một thời gian sẽ không còn ai nhắc. Cuộc vận động dân chủ như một chuyến tàu, tại mỗi sân ga, có người bước xuống nhưng cũng có người khác bước lên. Lịch sử đã, đang và sẽ diễn ra như thế.
Nhưng nếu anh Cù Huy Hà Vũ chọn ra nước ngoài để vừa được bình an vừa tiếp tục con đường tranh đấu như phương cách anh đã làm trong nước thì đó sẽ là một chọn lựa vô cùng khó khăn để thực hiện:
- Phương pháp đấu tranh: Từ trước đến nay, anh Cù Huy Hà Vũ chọn phương pháp đấu tranh trong vòng cơ chế, nghĩa là chấp nhận và dựa trên hiến pháp CS, luật pháp CS. Anh từng ứng cử vào chức vụ Bộ trưởng Thông Tin, tranh cử Đại biểu Quốc Hôi. Anh từng kiện Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Thừa Thiên, kiện cả Thủ tướng CS Nguyễn Tấn Dũng, đòi hỏi phải thay đổi hiến pháp. Nói chung, anh tìm mọi kẽ hở của chế độ để tấn công, nhưng những kẽ hở đó đã được đóng lại cùng lúc với cánh cửa máy bay. Điều kiện đầu tiên để đấu tranh trong vòng cơ chế là phải có mặt. Không gian đấu tranh chính trị như thế không tồn tại ở hải ngoại. Ở Mỹ không có “gậy ông” để anh “đập lưng ông”. Lịch sử đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc có rất nhiều người đã đấu tranh trong vòng cơ chế thực dân như Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, nhà báo Nguyễn Phan Long, kỹ sư Bùi Quang Chiêu, nhà văn Diệp Văn Kỳ v.v… và đã giúp tạo nền móng vững chắc cho chế độ dân chủ tại miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1975 nhưng họ đều trực diện một mất một còn với chế độ thực dân tại Việt Nam.
- Hậu thuẫn đấu tranh: Anh Cù Huy Hà Vũ vận dụng tích cực các mối quan hệ cá nhân, gia đình, môi trường xã hội mà anh xuất phát để làm điểm tựa đấu tranh. Những điều kiện đó thuận lợi bao nhiêu ở trong nước sẽ bất lợi bấy nhiêu ở hải ngoại. Giả thiết rằng điểm hẹn cuối cùng trong hành trình tranh đấu của anh Cù Huy Hà Vũ cũng là một nước Việt Nam tự do dân chủ như phần lớn người Việt trong và ngoài nước đang tranh đấu, điểm khởi hành của anh phát xuất từ trong lòng chế độ CS và vì thế không đi cùng một ngã với đại đa số người Việt hải ngoại. Người Việt hải ngoại không phải bao giờ cũng bằng mặt, bằng lòng với nhau nhưng có một lập trường dứt khoát giống nhau đối với chế độ CS như một điều kiện tiền đề, không có chuyện “tuy nhiên”, “lẽ ra” hay “nói gì thì nói” nào cả.
- Lý luận đấu tranh: Anh Cù Huy Hà Vũ không phải là nhà tư tưởng hay nhà lý luận. Hầu hết các hoạt động của anh chỉ mang tính chiến thuật, ngắn hạn, gây khó khăn cho chế độ nhưng không tấn công vào nền tảng của ý thức hệ Mác Lê và các nguyên nhân dẫn đến một đất nước điêu tàn, nghèo đói, phân hóa như hôm nay. Có thể  phương cách đấu tranh đó anh nghĩ là thích hợp nhưng trong điều kiện hải ngoại những chiến thuật như thế không hiệu quả và cũng không thuyết phục được bao nhiêu người. Tham nhũng tại Việt Nam có tính đảng và sinh sôi nảy nở tốt tươi dưới bóng cây cổ thụ quyền lực của đảng, do đó, đánh tham nhũng mà tránh đánh vào đảng CS cũng chẳng khác gì đánh vào chiếc bóng đen mà để yên cho kẻ trộm dọn nhà mình.
Anh Cù Huy Hà Vũ có thể nói đã một mình đã tạo nên một phong trào đấu tranh đầy sinh động. Các nhà chiến lược và lý luận có thể không đánh giá anh cao nhưng cách đấu tranh của anh lại dễ gây phong trào quần chúng và gây khó cho lãnh đạo CS. Nhiều bạn trẻ đã khóc, đã xuống đường, đã bị tù vì anh khi anh bị chế độ CS hạ nhục. Nhiều cụ già đã thương quý anh như con, như cháu khi anh bị lao tù. Ngoài việc can đảm, gan dạ, với tuổi trung niên, anh là chất keo nối kết các tầng lớp xã hội. Quốc tế nhìn anh như một lãnh tụ đấu tranh nổi bật của giai đoạn này và luôn dùng để gây áp lực nhân quyền với chế độ. Nhưng chất keo đó chỉ còn là những giọt nước mưa rớt rơi trên mặt phi đạo khi chuyến bay mang anh đi vừa cất cánh. Nụ cười và dấu V chiến thắng của anh đưa lên khi ra khỏi phi trường Dulles ở Washington DC có thể chỉ để xã giao với người đang cầm máy ảnh nhưng làm đắng cay cho bao nhiêu đồng bào, anh em đang kỳ vọng ở nơi anh.
Lịch sử cũng từng chứng minh không phải đi là hết
Rất nhiều chính khách đối lập lưu vong hay tự lưu vong ở nước ngoài sau đó đã trở về và thành công trong việc lãnh đạo quốc gia như Benazir Bhutto, Kim Đại Trọng ở Á Châu, Jacob Zuma, Moncef Marzouki của Phi Châu và nhiều người khác.
Nhiều độc giả đã biết trường hợp Kim Đại Trọng của Nam Hàn và Benazir Bhutto của Parkistan, xin giới thiệu trường hợp của Tổng thống Tunisia Moncef Marzouki mới đây. Sau khi tốt nghiệp bác sĩ tại đại học Strasbourg, Pháp, Bác sĩ Moncef Marzouki trở lại Tunisia và thành lập Trung Tâm Y Tế Cộng Đồng để ngăn chận lạm dụng thiếu nhi. Bác sĩ Moncef Marzouki không có tham vọng chính trị nhưng trước việc nhà độc tài Ben Ali trấn áp một cách dã man các thành phần đối lập, ông đã đứng ra thành lập Ủy Ban Quốc Gia Bảo Vệ Tù Nhân Lương Tâm (the National Committee for the Defense of Prisoners of Conscience). Ông bị tù nhiều lần trước khi lưu vong sang Pháp. Tại Pháp, ông tiếp tục lãnh đạo Nghị Hội Vì Nền Cộng Hòa (Congrès pour la République) gọi tắt là CPR. Nghị Hội Vì Nền Cộng Hòa quy tụ một tập thể trí thức thuộc nhiều tôn giáo, thành phần xã hội, hữu và tả, Arab và không Arab nhưng theo đuổi một mục tiêu tối hậu là thành lập một chế độ Cộng Hòa đầu tiên tại Tunisia bao gồm tự do ngôn luận, tự do hội hộp, tự do bầu cử và ứng cử. CPR đòi hỏi một hiến pháp mới đặt cơ sở trên các nguyên tắc của chế độ Cộng Hòa. Sau khi nhà độc tài Ben Ali bị lật đổ, Moncef Marzouki trở về Tunisia để tham gia cuộc bầu cử quốc hội và được chọn làm Tổng thống của Tunisia ngày 12 tháng 12 năm 2011. Trả lời báo chí, Moncef Marzouki phát biểu về nhiệm vụ chính của ông ta “Khi một đất nước phải trải qua 50 năm độc tài, nhiệm vụ chính của tôi là ngăn chận độc tài tái diễn”.
Còn hơi sớm để đánh giá, nhận xét về việc anh Cù Huy Hà Vũ ra đi bởi vì có thể có nhiều yếu tố về phía Mỹ, phía CSVN và cả cá nhân anh vẫn chưa được biết, chưa được tiết lộ, chưa được tỏ bày. Những điểm người viết trình bày không có ý phê bình, chỉ trích nhưng chỉ muốn nêu ra một cách thẳng thắn về những hoàn cảnh và tình huống mà anh Cù Huy Hà Vũ có thể sẽ phải đương đầu trong những ngày tháng tới. Nếu anh chỉ muốn có cuộc sống bình an, đọc sách, họa, nghiên cứu luật sẽ không có gì để nói nhưng nếu anh tiếp tục dấn thân trên đường đấu tranh như đã từng làm thì trước mặt là đỉnh Everest đang đợi chờ anh.
Một góp ý chung cho tất cả những người ra đi, dù ra đi bằng ghe như kẻ viết bài này hay bằng máy bay như các lãnh tụ đấu tranh: Xa đất nước là một bất hạnh và ra đi, dù viện dẫn bất cứ một lý do gì, cũng có lỗi với quê hương.
Trần Trung Đạo

https://www.facebook.com/notes/tr%E1%BA%A7n-trung-%C4%91%E1%BA%A1o/tr%E1%BA%A7n-trung-%C4%91%E1%BA%A1o-ch%E1%BB%8Dn-l%E1%BB%B1a-c%E1%BB%A7a-%C4%91%E1%BB%9Di-ng%C6%B0%E1%BB%9Di/766288793395109

Posted in vietnamese | Leave a comment

ĐẠI HỘI KỶ NIỆM 35 NĂM CAP ANAMUR

ĐẠI HỘI KỶ NIỆM 35 NĂM CAP ANAMUR

nue„Tôi cũng là người Việt Nam – Ich bin auch ein Vietnamese“ câu mở đầu trong bài nói chuyện của Tiến sĩ Rupert Neudeck trong ngày Đại hội kỷ niệm 35 năm Cap Anamur do Ủy Ban Cap Anamur phối hợp với Hội Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản Hamburg tổ chức trước Tượng Đài Thuyền Nhân Tỵ Nạn CS tại cảng Hamburg ngày 09.8.2014. Câu nói của ông đã gây một ấn tượng thương quý mãnh liệt đối với hơn 3.000 (1) người Việt từ khắp nước Đức cũng như từ vài quốc gia lân cận đến tham dự buổi lễ… Đây cũng là câu nói để đời trong ngày sinh nhật 75 tuổi của ông và lần này có thể là lần tổ chức cuối cùng kỷ niệm Cap Anamur theo như Thông Báo của Ban Tổ Chức.

Một lần nữa cảng Hamburg lại tưng bừng đón tiếp một ngày tri ân và hội ngộ của người Việt khắp mọi tiểu bang trong rừng cờ vàng ba sọc đỏ tung bay giữa vùng biển trời lồng lộng để tưởng nhớ đến quê mẹ bên kia bờ đại dương. Đất trời cũng chìu lòng người nên những cơn mưa âm ỉ buổi sáng, những cơn gió mạnh, những đám mây đen vần vũ trên bầu trời cũng dần dần biến mất. Trời quang đãng dần và vầng thái dương bắt đầu chiếu những tia nắng ấm áp vào lòng người thật rộn ràng vui tươi khi bắt đầu buổi lễ vào lúc 14 giờ.

Cô MC Thanh Trúc với tiếng Đức lưu loát đã điều khiển linh động nhịp nhàng, vui nhộn trong suốt buổi lễ hoàn toàn nói tiếng Đức. Trong bài diễn văn chào mừng, Ông Nguyễn Hữu Huấn, Trưởng Ban Tổ Chức đã cảm ơn mọi người và giới thiệu thành phần quan khách đến tham dự. Trong đó có quý ông Dr. Hans-Jochen Jaschke, Giám Mục phụ tá Giáo phận Hamburg; ông Franz Muntefering, cựu phó thủ tướng (SPD); ông Dr. Philipp Rösler, cựu phó thủ tướng, cựu đảng trưởng FDP, hiện là Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Thụy Sĩ; Ký giả Frank Alt, Giám Đốc chương trình truyền hình Baden Baden; ông Freimut Duve, thành viên quốc hội liên bang; Luật sư Burgkhard Müller-Söncksen, cựu thành viên quốc hội liên bang; Mục sư Roman Siewert, quản trị Nazareth Haus Nordeich; Dr. Hans-Christoph Müchler, Chủ tịch Hội con tàu bệnh viện Helgoland giúp Việt Nam; Bà Anne Wangnick, quả phụ của cố thuyền trưởng Rolf Wangnick tàu Cap Anamur; Dr. Werner Strahl, Chủ tịch Ủy Ban Cap Anamur; Till Gröner, quản trị chương trình Grünehelme; Dr. Med.Hans-Georg Tafel, cựu Bác sĩ cấp cứu trên tàu Cap Anamur và Bà Dr. Luise Druke LL.M. đại học Havard…

CapAnamur_HH_1aVề phía Việt Nam có sự hiện diện các vị lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo: Linh Mục Vincent Maria Phạm Cao Quý (Roma); Mục sư Nguyễn Văn Hiếu (Nordhorn); Sư Cô Tuệ Đàm Nghiêm, (chùa Bảo Quang Hamburg); Bác sĩ Hoàng Thị Mỹ Lâm, Chủ tịch Liên Hội Người Việt tại CHLB Đức; ông Phùng Khải Tuấn, Chủ tịch Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam; ông Nguyễn Văn Rị, Chủ tịch Hội Người Việt TNCS Mönchengladbach; ông Phù Vân, Chủ bút báo Viên Giác; ông Lê Văn Hồng, Cộng Đoàn trưởng Công Giáo Hamburg; ông Nguyễn Thanh Hải và cô Phí Thị Lan Hương, đại diện Hội Danke Deutschland tại Berlin và một số người Việt từ các quốc gia khác đã được tàu Cap Anamur vớt từ năm 1979 đến năm 1986. Đến từ Hoa Kỳ có MC Ca Nhạc sĩ Nam Lộc, Đại diện cho Trung Tâm Asia và đài truyền hình SBTN; ông bà Dương Phục và Thanh Thủy, Giám Đốc đài phát thanh Việt Nam tại Texas, là những người đã từng tích cực phục vụ trên tàu Cap Anamur, phụ trách chương trình Boat People S.O.S; các ông Nguyễn Thành Công và ông Võ Thành Nhân, phóng viên đài SBTN. Đến từ Canada có Nha sĩ Hoàng Đình Trí, Bác sĩ Trương Hữu Độ, Bác sĩ Trương Lâm Liễu Kim đại diện Liên Hội Người Việt Canada và bà Lâm Tuyết, Chủ tịch Ủy Ban Xây Dựng Viện Bảo Tàng Thuyền nhân tại Ottawa…

Trong phần phát biểu của ông Hans-Jochen Jaschke, Đức Giám Mục đã nhấn mạnh đến khổ nạn chiến tranh đau thương ở Phi châu, Syrien, Palästina và đề nghị chúng ta cần phải có một chính sách về tỵ nạn. Tiếp theo là phần phát biểu của các cựu chính khách, trước hết ông cựu thủ tướng Muntefering ca tụng sự hội nhập thành công của cộng đồng người Việt.

Ông cựu phó thủ tướng Dr. Philipp Rösler, sinh trưởng tại Việt Nam, trong bài phát biểu ngắn gọn đã cảm ơn ông Neudeck đã cứu vớt thuyền nhân Việt Nam. Phải chăng vô hình chung ông đã thừa nhận gốc gác Việt Nam của mình.

Đặc biệt  John Nguyễn Khánh Hưng (đảng FDP) một thanh niên trẻ thế hệ thứ hai, sinh trưởng tại Đức đã nói về sự hội nhập của người Việt vào xã hội Đức và hy vọng rằng những người trẻ tuổi cần giữ cả hai nền văn hóa và nên theo đuổi ngành chính trị để sau này có cơ hội giúp quê hương Việt Nam.

huaQua thế hệ trẻ này và qua những tràng pháo tay nồng nhiệt của bà con khi đón tiếp cũng như khi ông Neudeck bước lên diễn đàn cũng đủ nói lên tinh thần biết ơn,- ngoài ơn cha mẹ, ơn quê hương tổ quốc, ơn Thầy Tổ, ơn chúng sanh,- chúng ta còn phải biết ơn những ân nhân đã cứu độ mình theo truyền thống của người Việt Nam và đó cũng là một trong tứ trọng ân mà Đức Phật đã dạy. Điều đó cũng có thể khẳng định rằng, sau này dù thế hệ thứ nhất của các bậc cha ông không còn có thể tổ chức những buổi lễ tri ân nữa thì những thế hệ con cháu kế thừa vẫn còn tiếp tục tổ chức những ngày hội ngộ và tri ân khác. Cũng chính vì lý do này và muốn lưu truyền lại những chứng tích lịch sử về sự hiện diện và thành quả của cộng đồng người Việt tỵ nạn trên khắp năm châu cho những thế hệ Việt Nam mai sau, nên mới có sự hiện diện của đại diện Ủy Ban Xây Dựng Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân Canada đến tham dự; cũng như các đài truyền thanh truyền hình SBTN, Radio Saigon Houston, Radio Việt Nam Hải Ngoại… đến phỏng vấn và ghi trực tiếp những thước phim để trình chiếu và lưu giữ trong Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân sau này.

Ngoài ra cũng có vài tiết mục văn nghệ ca, vũ có ý nghĩa liên quan đến ngày tri ân. Xuất sắc nhất là Ca Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hamburg đồng ca hai bài quốc ca Đức-VNCH được rất nhiều người Đức ngưỡng mộ. Đây là lần thứ hai, cũng tại nơi này cách đây 5 năm trong buổi Lễ khánh thành Tượng Đài Thuyền Nhân Tỵ Nạn vào năm 2009, Ca Đoàn cũng đã hát quốc ca Đức Việt

Những chiếc áo dài Việt Nam thướt tha của các bà các cô tiếp viên, của các chị em trong Ca Đoàn Công Giáo, của người tham dự đã điểm tô thêm sắc màu đầy vẻ sinh động của một ngày lễ tại cảng Hamburg. Từ sáng sớm đài truyền thanh Hamburg đã loan tải nhiều lần bản tin về ngày lễ hội; và buổi tối đài truyền hình Đức cũng đã trình chiếu hình ảnh sinh hoạt ngày kỷ niệm 35 năm Cap Anamur. Trước khi khai mạc buổi lễ nhiều đài truyền thông đã phỏng vấn tại chỗ một số người đến tham dự. Họ đã kể lại những câu chuyện vượt biển đào thoát chế độ cộng sản bằng những chiếc thuyền nhỏ mong manh trong những chuyến hải hành kinh hoàng trên biển cả mênh mông, bất chấp bão tố, hải tặc dã man, dám đánh đổi cả mạng sống để tìm tự do. Họ rưng rưng nước mắt cảm ơn Tiến sĩ Neudeck, vì nếu không có ông, không có những chuyến tàu Cap Anamur nhân đạo cứu nguy trên biển thì giờ đây họ đã không còn cơ hội đứng đây để nói lời cảm ơn ông. Cảm ơn, nhớ ơn hay tri ân là những lời chân thành nhất phát xuất tự trong thâm tâm theo truyền thống của người Việt Nam.

Buổi lễ kỷ niệm 35 năm Cap Anamur tại cảng Hamburg kết thúc lúc 16 giờ, nhưng bà con vẫn còn lưu luyến ở lại để có dịp chụp hình lưu niệm với ông bà Neudeck, với các yếu nhân và nghệ sĩ Nam Lộc mà họ mến mộ.

Ban Tổ Chức đã phục vụ rất chu đáo: nước uống cho số khách mời bên trong, ẩm thực cho bà con người đến tham dự bên ngoài; một chiếc xe Bus do các anh Thượng và Phúc, tài xế xe Bus HVV Hamburg, chở những khách phương xa không thông thạo đường sá từ cảng Hamburg sau lễ buổi sáng về hội trường và từ hội trường về hai nơi ngủ đêm là Chùa Bảo Quang Hamburg ở Billstedt và Võ đường Taekwondo của Võ sư Thành Long ở Wandsbek sau đêm văn nghệ.

capĐêm văn nghệ mừng đại hội 35 năm Cap Anamur bắt đầu vào lúc 19 giờ tại hội trường Đại học Quân đội Helmut-Schmidt Universität tại Hamburg-Jenfeld.

Cứ ngỡ số người tham dự sẽ ít đi rất nhiều vì bà con ở các nơi xa sẽ trở về nhà hay về chùa Viên Giác tại Hannover để tham dự đại lễ Vu Lan và Lễ Hội Quán Âm khánh thành tượng Quán Âm lộ thiên cao 8 mét và như thường lệ cũng có chương trình văn nghệ miễn phí với ca sĩ đến từ Hoa Kỳ được tổ chức cùng ngày. Nhưng số lượng khán giả đến dự đêm văn nghệ ngày càng đông chật cả hội trường trên con số 7-800 như anh chị em trong Ban Tổ Chức dự trù.

Nhóm MC Mỹ Lệ, Minh Mẫn, Thanh Hương và Đức Hiếu đã điều hợp sinh động chương trình đêm văn nghệ. Sau phần nghi thức chào cờ và mặc niệm như thường lệ, ông Lê Ngọc Tùng, Chủ tịch Hội Người Việt TNCS Hamburg, đại diện Ban Tổ Chức lên chào mừng quan khách.

Tiếp đến là lời cảm tạ của ông bà Neudeck trước những tràng pháo tay nồng nhiệt của thuyền nhân Việt Nam tham dự bên trong và bên ngoài hội trường. Ông là một vị ân nhân, một vị Bồ Tát đã cứu sống và ban cho họ một cuộc sống bình an trên xứ sở tự do đầy nhân bản và tình người. Một bó hoa cho bà- người đàn bà đã cùng ông hy sinh cả cuộc đời trong nhiều công tác từ thiện không biên giới. Hết sáng lập Ủy Ban Cap Anamur rồi đến tổ chức Hội Mũ Xanh (Grünehelme e.V.), ông bà luôn tiếp tục phục vụ cho hạnh nguyện cứu đời.

Cùng với lý tưởng đó, là phần phát biểu của các ông Tiến sĩ Werner Strahl; cũng như ông Till Gröner, Hội Mũ Xanh (Grünehelme e.V.)  Qua sự trình bày của các yếu nhân nói trên thì sự hình thành một con tàu cứu người vượt biển, thành lập Ủy Ban Cap Anamur với những hoạt động cứu người đều tiến triển theo từng làn sóng người Việt vượt biển từ năm 1979 cho đến năm 1986. Con số 11.300 thuyền nhận được vớt và được chính quyền Cộng Hòa Liên Bang Đức tiếp nhận vào định cư quả là một cuộc vận động liên tục đấu tranh không ngừng của nhiều giới chức và báo chí…

Những hình ảnh thân ái, những lời tường trình về quá trình cứu người vượt biển đã làm cho những người hiện diện trong ngày lễ thêm xúc động. Nhìn vóc dáng gầy yếu của vị ân nhân với tuổi đời 75 còn gánh thêm những công tác thiện nguyện trĩu nặng trên vai; bà con đều thấy xót xa thương cảm. Họ luôn cầu nguyện cho ông bà được nhiều sức khỏe để còn cơ hội tham dự những ngày lễ tri ân và hội ngộ ấm cúng đầy tình nghĩa và tình người như hôm nay.

png;base64423527d24e4fc92fBan Tổ Chức đã gây bất ngờ cho ông bà Neudeck khi trao tặng cho ông bà chi phí một chuyến về thăm quê cũ tại Danzig (Ba Lan) mà hầu như từ lâu ông bà chưa về và chưa dành thì giờ cho cuộc sống riêng tư của mình. Mục sư Roman Siewert cũng trình bày công tác thiện nguyện của ông giúp đỡ cho hơn mấy ngàn người Việt ngay từ khi họ mới đến định cư tại Norden.

Tiết mục đầy tình nghĩa trong đêm nay là Ban Tổ Chức đã trao tặng số tiền của người Việt tỵ nạn khắp nơi ủng hộ cho ngày tổ chức 35 năm Cap Anamur. Sau khi Ban TC kết toán chi thu đã chuyển cho ông Neudeck (cho UB Cap Anamur và Hội Mũ Xanh) còn thừa lại  đã tạm kết toán là 4.500€ và nhóm Ẩm Thực cũng trao tặng số tiền cả vốn lẫn lời là 5.000 € cho ông Neudeck để ủng hộ cho công tác thiện nguyện của Hội Mũ Xanh. (Sau khi kế toán tổng số tiền  11.660 € trong đó 5.500 € của Ban TC và 6.160 € của nhóm ẩm thực)

Ban Ẩm Thực đã quy tụ một số anh chị em (Dũng-Ngôn, Linh-Phát, Tám-Nguyệt, Hồng-Hà, Trọng-Thoa… và một số người thiện nguyện khác) đã bỏ công sức và tài vật trong suốt một thời gian dài để chuẩn bị cho ngày lễ. Với số lượng quan khách đông đảo như vậy, Ban Ẩm Thực phục vụ chu đáo, đầy đủ cho mọi người; đó một điều đáng thán phục.

MC Nam Lộc, đại diện cho Trung Tâm Asia đã ngỏ lời chào mừng và ca tụng sự thành công của Ban Tổ Chức từ hình thức đến nội dung buổi tri ân ông Neudeck và Ủy Ban Cap Anamur đầy tình nghĩa ấm cúng. Sau khi tham dự buổi họp báo phỏng vấn ông bà Neudeck tại phòng riêng bên cạnh, Nam Lộc đã hát tặng bà con bài hát „Sàigòn vĩnh biệt“ do anh sáng tác cách đây 39 năm với giọng ca bùi ngùi truyền cảm.

Bà Lâm Tuyết, Chủ tịch Dự Án Xây Dựng Viện Bảo Tàng Thuyền nhân cũng trình bày sự hình thành và sự tiến triển của chương trình này. Bà và vị đại diện Liên Hội Người Việt Canada cũng đã trao tặng món quà lưu niệm cho ông Neudeck-Ủy Ban Cap Anamur và quà lưu niệm cho Ban Tổ Chức-Hội Người Việt TNCS Hamburg.

png;base643ef9fa149ac246caKế tiếp là các tiết mục văn nghệ mà khán giả đang nóng lòng chờ đợi. Anh Bùi Văn Thành, Phó Chủ tịch Hội Người Việt TNCS Hamburg, Trưởng Ban Văn nghệ, với tinh thần trách nhiệm đã khổ công làm việc vất vả hơn mấy tháng trời mới quy tụ được những giọng ca, những  ban ca vũ từ các nơi xa đến đóng góp. Các cháu trong nhóm thiếu nhi Cộng Đoàn Công Giáo Hamburg qua màn vũ „Trống cơm“; cũng như màn hợp ca „Bốn phương họp mặt“ của nhóm thiếu nhi Liên Đoàn Hướng Đạo Hoa Lư.

Sôi động và đầy ý nghĩa khích động tinh thần chống giặc ngoại xâm hiện tại là hoạt cảnh „Triệu Trinh Nương“ của nhóm múa Ngân Tuyền Hamburg. Màn này tuy được trình diễn vài lần, nhưng vẫn được khán giả hâm mộ.

Nhóm MC cũng đóng góp màn hoạt cảnh „Đêm chôn dầu vượt biển“ để khán giả nhớ lại những nỗi âu lo, nhọc nhằn, chịu đựng khi tìm cách vượt thoát chế độ vô nhân của cộng sản Việt Nam. Duyên dáng, đẹp đẽ, trẻ trung là những màn ca múa của Ban Văn Vũ Điểm Sáng đến từ Darmstadt. Bất cứ trình diễn nơi nào, Ban Văn Vũ Điểm Sáng cũng được khán giả ái mộ.

fraMới lạ và đặc biệt xuất hiện lần đầu tiên tại Hamburg là Ban Tứ Ca Frankfurt với những giọng ca đầy cảm xúc đã trình diễn sinh động qua các nhạc phẩm „Triệu con tim“, „Bên em đang có ta“ của Trúc Hồ. Ban Tứ Ca cũng đã diễn đạt tròn đầy tinh cảm ngọt ngào qua nhạc phẩm  “Đàn con nhớ mẹ“ của Quốc Bình sáng tác và hòa âm, trình diễn đúng trong mùa Vu Lan Báo Hiếu.

Đặc sắc nhất là cháu Michael Chung, 14 tuổi, với bài „Geboren um zu leben“, em đã ca diễn bằng một giọng hát thật tuyệt vời điêu luyện, có rất nhiều tương lai trong nền âm nhạc.

Ngoài ra còn có những tài năng và giọng ca khác đóng góp như Bích Phượng (Frankfurt); Mỹ Duyên, Anh Dũng; Mai Phương, Jenifer HD, Liên Đoàn Hướng Đạo Hoa Lư và Ca Đoàn Công Giáo (Hamburg); Thy Kim (Mönchengladbach); Ngọc Ân (Hòa Lan); Lê Hùng (Bremenhaven).

Ban nhạc „Cát Bụi“ đã từng sát cánh với Hội Người Việt TNCS Hamburg trong những buổi lễ hội, nay lần nữa lại hết mình cống hiến tài năng để mong làm vừa lòng giới mộ điệu. Tuy nhiên vì trời đã khuya, một số khán giả ra về do những bài phát biểu quá dài chiếm mất thời lượng của phần văn nghệ nên họ không còn hào hứng nữa. Dù vậy Ban nhạc vẫn tưng bừng sôi động với các giọng ca quen thuộc như: Đức Phong qua các nhạc phẩm (Không, Thao thức anh về, Tàn tro, Hãy nhìn lại mình); Lê Hà (Những lời mê hoặc, Tình đẹp như mơ, Những bước chân âm thầm, Vết thương cuối cùng); Nhan Sáu (Xin thời gian qua mau, Xót Xa); Ngọc Đỉnh (Anh là ai?); Đức Tuấn (Tình đời nghệ sĩ, Bao giờ em mới hiểu); Kim Nhung (Ngàn năm vẫn đợi, Để nhớ một thời ta đã yêu, Chuyện thường tình thế thôi); Thanh Loan (Bài ca kỷ niệm, Sầu tím thiệp hồng, Sẽ không bao giờ hết); và Jay Trí (Closer, Dance With Somebody, Careless Whisky, Move Like Jacker).

CapAnamur_HH_10Đêm văn nghệ kết thúc vào nửa khuya ngày lễ kỷ niệm 35 năm Cap Anamur- ngày hội ngộ và tri ân Ủy Ban Cap Anamur và chính quyền cùng nhân dân Đức đã mở rộng vòng tay nhân đạo tiếp nhận, giúp đỡ, bảo bọc người tỵ nạn từ mấy mươi năm qua.

Cảm ơn Ủy Ban Cap Anamur, cảm ơn Hội Người Việt TNCS Hamburg đã kết hợp tổ chức thành công một ngày lễ thật sống động, thật chu đáo cho cộng đồng người Việt gần xa có dịp gặp gỡ, sống lại những kỷ niệm vui buồn từ mấy mươi năm qua; đặc biệt thấy được cộng đồng đã lớn mạnh và có một đời sống thật an lành trên quê hương mới và để thấy rõ thế hệ thứ hai đã hội nhập thành công về kỹ thuật, xã hội, văn hóa, kinh tế và có thể từng bước tiến thân về chính trị. Đó là niềm vui, cũng là niềm hãnh diện khi chia tay nhau và hẹn một ngày tái ngộ không xa…

 

Phù Vân: Tường thuật buổi lễ kỷ niệm

35 Năm Cap Anamur tại Hamburg

ngày 09.8.2014

1 Báo Bild Zeitung ngày 11.8.2014

http://hoamunich.wordpress.com/2014/08/20/dai-hoi-ky-niem-35-nam-cap-anamur/

——————————————————————————————————-

https://plus.google.com/photos/103502864509757484747/albums/6048254630267756897?partnerid=gplp0

Posted in vietnamese | Leave a comment

CHUYỆN CÓ THẬT TẠI ĐẠI HỌC STANFORD

Originally posted on hoamunich:

a 4Hai sinh viên gặp khó khăn trong việc trả tiền học. Anh ta mồ côi, không biết đi nơi đâu để kiếm ra tiền. Anh nảy ra một sáng kiến, cùng một người bạn khác quyết định tổ chức một buổi nhạc hội ngay trong khuôn viên trường để gây quỹ cho việc học.

Họ tìm đến người nhạc sĩ dương cầm đại tài Ignacy J Paderewski.(1) Người quản lý của Paderewski yêu cầu một khoản phí bảo đảm $2,000 để cho ông ấy trình diễn. Sau khi họ thỏa thuận xong, hai người sinh viên bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị để cho buổi trình diễn được thành công.

View original 743 more words

Posted in vietnamese | Leave a comment

HAI LUÁ ĐI MỸ (II)

Originally posted on hoamunich:

10-MiamiNăm 1492 Christopher Columbus (1) là người vượt Đại Tây Dương thám hiểm khám phá ra Châu Mỹ là một sự kiện nổi bật nhất của lịch sử.

Tân thế giới tài nguyên phong phú, đất rộng phì nhiêu. Người Âu Châu từ các quốc gia như: Tây Ban Nha, ý, Anh, Pháp, Hoà Lan, Đức…di cư sang Mỹ lập nghiệp khai thác tài nguyên. Các khu định cư của người Tây Ban Nha phát triển và trở thành các thành phố quan trọng trong đó có Santa Fe, Albuquerque, San Antonio, Tucson, San Diego, Los Angeles, Santa Barbara và San Francisco. Người Hoà Lan có trung tâm thương mại ở New York và thung lũng sông Hudson… Để tưởng nhớ Columbus nhiều thành phố, thị trấn và đường phố tại Mỹ được đặt theo tên ông, (Columbus, Ohio và Columbia, Nam Carolina), cũng như hàng năm vào tuần lễ…

View original 2,661 more words

Posted in vietnamese | Leave a comment

VĂN HÓA Ở SÀI GÒN và HÀ NỘI

Originally posted on hoamunich:

phuong1SỰ KHÁC NHAU TRONG VĂN  HÓA ỨNG XỬ GIỮA SÀI GÒN và HÀ NỘI

Từ nhiều năm qua báo chí thường xuyên nhắc nhở tới cách ứng xử của người dân qua những hành xử thông thường nơi công cộng hoặc các hành động mang tính văn hóa giữa cộng đồng.

Những bài viết này luôn nhận được phản hồi tích cực từ người đọc nhất là nơi bị chỉ trích tuy nhiên sau khi tờ báo được cất hay cũ đi, tất cả mọi thứ trở về với trạng thái cũ, tức là cảnh gấu ó ngoài đường, tranh giành nhau một chỗ đứng, sẵn sàng buông ra lời tục tĩu nếu một người nào đó vô ý đụng chạm tới thân thể hay tài sản của mình. Tất cả những thứ ấy được gói gọn vào bốn chữ văn hóa ứng xử, cụm từ mà trước đây vài…

View original 2,629 more words

Posted in vietnamese | Leave a comment

CHÂM NGÔN CUỘC SỐNG

Originally posted on hoamunich:

2aSuy ngẫm về cuộc sống

Ngày tuyệt vời nhất chính là NGÀY HÔM NAY

Điều dễ làm nhất chính là BỚI MÓC LỖI LẦM CỦA NGƯỜI KHÁC

Điều xấu hổ nhất chính là TỰ MÃN QUÁ ĐÁNG

Trở ngại lớn nhất của cuộc đời chính là NỖI LO SỢ

Sai lầm lớn nhất chính là TỪ BỎ MỤC ĐÍCH CAO ĐẸP CỦA MÌNH

View original 224 more words

Posted in vietnamese | 3 Comments

HAI LÚA ĐI MỸ (1)

Originally posted on hoamunich:

the-united-states-of-america-map

Chúng tôi  “Hai Lúa” cũng như nhiều người thích du lịch đến Mỹ qua những tiểu bang khác nhau, nhưng  phần lớn họ đến California vì nơi nầy có nhiều người Việt sinh sống, thời tiết thích hợp hơn cho người Á Châu. California từ Bắc đến Nam có nhiều phong cảnh đẹp, sinh hoạt của người Việt ở Little Sàigòn, San Jose luôn đậm nét quê hương. Có nhiều phong cảnh đẹp như: Lake tahoe, Josemite, Reno, San Francisco, San Diego, Seaworld, Las Vegas, Hollywood, Disneyland…

Theo thống kê năm 2013 người Việt ở Mỹ hơn 1,724.508 người, đông nhất California từ năm 2010 có hơn 834,635 người. Sau đó là Texas 396,522 người.

Người Việt đến định cư tại Mỹ có thể chia ra 3 thành phần (?)

1/ Số người đến định cư từ sau 30.4.1975.

2/ Đoàn tụ gia đình từ năm 1979 Orderly Departure Program…

View original 2,455 more words

Posted in vietnamese | Leave a comment