Huỳnh Thục Vy – Bàn về dân trí

Bàn về dân trí

Từ đầu thế kỷ trước, Phan Chu Trinh đã nói đến công cuộc “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” cho Việt Nam. Đến hôm nay và có thể là một thời gian dài sau này, riêng chuyện dân trí chắc sẽ còn tốn nhiều thời gian và giấy mực của chúng ta.

Không ít lần, bộ máy tuyên truyền của nhà cầm quyền cộng sản rêu rao rằng: Việt Nam dân trí chưa cao để có thể có dân chủ; vì vậy, Đảng và Nhà nước cộng sản cần cai trị thêm, chờ khi nào dân trí đủ cao thì họ sẽ tự động thay đổi hệ thống chính trị và dân chủ hóa.

Thời gian chờ đợi này có thể là năm mươi năm hoặc  một trăm năm? Đây chắc chắn không phải chỉ  là lời chống chế cho sự cầm quyền bất xứng, không chính đáng và dai dẳng của Đảng cộng sản lên hơn chín chục triệu dân Việt Nam; mà nó có thể còn là suy nghĩ chân thành và thiện chí của nhiều người có học Việt Nam. Chưa có dân trí cao thì chưa thể có dân chủ?!

Và với nền giáo dục ngăn cản tự do, sáng tạo và đang ngày càng lụn bại như tại Việt Nam thì còn lâu trình độ tri thức của người dân Việt Nam mới có thể sánh kịp các quốc gia như Hàn Quốc, Đài Loan, thậm chí là Thái Lan…Vậy thì Đảng cộng sản sẽ tiếp tục ở đây, ngay trên đầu chúng ta trong một vòng định mệnh luẩn quẩn: độc tài -> dân trí thấp, dân trí thấp -> độc tài?!

Tất nhiên, tri thức là điều kiện không thể thiếu để phát triển đất nước một cách toàn diện và vững chắc. Chính tri thức cũng là yếu tố củng cố nền dân chủ. Tri thức giúp người dân tiếp cận thông tin nhanh chóng, am hiểu luật pháp và có những phản ứng hữu hiệu cho các chính sách quốc gia hoặc những thực hành chính trị của nhà cầm quyền. Tri thức và sự sáng tạo cũng là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế, sự hòa nhập của quốc gia vào cộng đồng quốc tế trong mọi lĩnh vực để người dân được sống ngày một thịnh vượng và có uy tín trên trường quốc tế hơn. Không ai có thể phủ nhận vai trò của trình độ tri thức đối với tiền đồ một quốc gia.

Nhưng chúng ta đang nói đến dân trí. Dân trí phải chăng đơn giản chỉ là trình độ tri thức của người dân, là chỉ số có thể đo lường được thông qua con số người có bằng cấp cao, tốt nghiệp những đại học danh tiếng? Chúng ta hãy cùng nhau dành thời gian để suy nghĩ về mệnh đề: “Dân thấp thấp thì chưa thể có Dân chủ”. Ấn Độ năm 1947 khi giành được độc lập, dân trí có cao hơn Việt Nam bây giờ không? Miến Điện hay Cambodia đã bắt đầu con đường dân chủ hóa có dân trí cao hơn Việt Nam không? Nếu các bạn lưỡng lự, thì chúng ta có thể cần nhiều thời gian hơn nữa trước khi đưa ra bất cứ khẳng định một cách khoa học nào về chuyện Dân trí – Dân chủ.

Theo thiển ý của người viết bài này, dân trí không chết cứng trong cái nội hàm “tri thức”. Dân trí là một tập hợp những điều kiện thuộc về não trạng và văn hóa nhiều hơn là tri thức. Dân trí cao không phải là tỷ lệ cao những người có học và có bằng cấp cao mà là các yếu tố thuộc về nhận thức (chứ không phải tri thức) có thể chi phối hành động và phản ứng của người dân trong mối quan hệ của họ với nhau và của họ với chính quyền.

Ví dụ, những người có học hành nhiều chưa chắc là những người có hành xử văn hóa. Trong cách dùng thông dụng do những người cộng sản hiện nay áp đặt, người có bằng cấp cao thì được gọi là người có trình độ văn hóa cao. Nhưng thực tế, những hành xử văn hóa không phụ thuộc nhiều vào việc người ta có học nhiều hay không, mà phụ thuộc vào nền tảng đạo đức từ môi trường gia đình – xã hội, những quy tắc hành xử phổ biến trong xã hội và nhận thức của chính người đó về các giá trị công bằng, bác ái, tự do và công lý;  để rồi từ đó có nhận thức đạo đức cơ bản và hành xử luân lý tương ứng.

Một người đàn anh đáng kính của tôi từng chia sẻ: Dân trí là chỉ số để đo (và luôn tỷ lệ nghịch với)  mức độ thờ phụng quyền lực các loại. Người dân thờ phượng quyền lực chính trị, trí thức thờ phượng một trí thức tên tuổi khác… Người viết tạm thời đưa ra vài đặc điểm dưới dây mà tôi xem như là biểu hiện của một nền dân trí cao:

- Người dân và đặc biệt là giới trí thức không/ ít sợ hãi và tôn sùng quyền lực, dù đó là quyền lực chính trị, kinh tế, học thuật hay tôn giáo. Người dân không xem những người cầm quyền chính trị là những người có vị thế ưu thắng tuyệt đối và bất khả xâm phạm. Đối với họ, các vị trí lãnh đạo quốc gia là có thể thay đổi được, dựa trên ý chí của chính người dân; và các vấn đề to lớn của quốc gia không phải là sân chơi riêng của những người ở “tầng lớp trên”.

- Giới trí thức không/ ít khao khát quyền lực chính trị. Họ không xem việc nắm quyền chính trị hoặc hưởng lợi nhờ quyền lực chính trị là mục tiêu hoặc là biểu hiện thành công của sự nghiệp mình. Tất nhiên tham chính và lãnh đạo quốc gia không phải là điều xấu nhưng đó không phải là cách duy nhất khiến một người có được vinh quang, sự khen ngợi và công ích xứng đáng. Trí thức đặt mình vào một vị thế còn quan trọng hơn, đó là giám sát chính trị, đề nghị chính sách quốc gia và phục vụ người dân.

- Người dân có khả năng giải quyết các vấn đề liên quan đến cuộc sống hằng ngày và các mối quan hệ với cộng đồng thông qua các hoạt động tự lập và tự quản, không viện đến sự xử lý của chính quyền nếu chưa cần thiết. Những sự phụ thuộc nhỏ lẻ vào chính quyền cho thấy ở họ tâm lý lệ thuộc thực chất còn lớn hơn nhiều.

- Người dân có xu hướng tôn trọng hạnh phúc và tự do của từng cá nhân con người; đề cao tự do và phẩm giá con người với tư cách từng cá nhân cụ thể; dù trân quý những hy sinh của cá nhân cho cộng đồng nhưng không coi sự hy sinh của cá nhân cho tập thể là giá trị luân lý bắt buộc.

- Người dân có xu hướng giải quyết vấn đề bằng phương pháp hòa bình và tinh thần khoan dung, không đề cao vũ lực và không/ít bị kích động bởi khuynh hướng bạo lực. Và họ có khả năng đề kháng tương đối đối với những hô hào mị dân về chủ nghĩ dân tộc cực đoan.

- Người dân có ý thức về lợi ích của sự hợp tác và có khả năng xây dựng đồng thuận một cách lành mạnh và tuân thủ luật pháp để hợp tác với nhau trong việc giải quyết các vấn đề cộng đồng và quốc gia. Nếu mệnh lệnh tùy tiện và độc đoán là đặc trưng của những xã hội bán khai  từ thời xa xưa của nhân loại thì khả năng tạo đồng thuận và hợp tác là kỹ thuật đặc biệt của những cộng đồng văn minh của thế giới hôm nay.

- Người dân giữ được sự bình tĩnh tương đối, khả năng hành động tương hỗ và sự thượng tôn luật pháp khi cộng đồng hoặc quốc gia lâm vào những tình huống khẩn cấp như thiên tai, chiến tranh, tội phạm. Họ có khả năng ứng phó một cách khoa học, lý tính trong những trượng hợp đó.

- Người dân có khả năng tư duy và phán đoán độc lập, không/ ít tôn sùng biểu tượng, không đeo bám cứng nhắc những giáo điều hay chủ thuyết nhất định. Bởi theo logic tâm lý, khi người dân quá tôn sùng biểu tượng thì  trong tâm lý của họ không có điều gì khác hơn ngoài việc người ta cũng muốn trở thành biểu tượng nếu có cơ hội. Tâm lý tôn sùng biểu tượng càng mạnh thì sự hãnh tiến khi nắm được địa vị ưu thắng càng lớn. Đây cũng có thể được xem là một khía cạnh của sự thờ phượng quyền lực.

Sau khi xem xét xong những điều trên đây, chúng ta gần như có thể trả lời được câu hỏi: Vì sao ngày càng có nhiều sinh viên Việt Nam đi du học nước ngoài nhưng hầu như có rất ít người trong số những con người bằng cấp đầy mình ấy có đủ can đảm để dấn thân cho dân chủ và đóng góp cho cộng đồng xã hội.Những người kiến thức sâu rộng ấy cũng vô cùng sợ hãi và thiếu trách nhiệm giống như bao người thất học khác, vì kiến thức không giúp họ trở nên can đảm, bớt lệ thuộc quyền lực và sốt sắng nhận lãnh trách nhiệm cộng đồng.

Bởi vậy nhiều con cái các gia đình cán bộ cộng sản cấp địa phương cũng như cấp quốc gia du học và trở về, nhưng cái họ đang và sẽ trở thành không phải là điều gì khác hơn ngoài những “ông bà độc tài con”. Vấn đề là ở chỗ nhận thức về chính trị – xã hội và kỹ thuật tổ chức cuộc sống chung trong một cộng đồng văn minh chứ không phải là việc có nhiều bằng cấp hay không.

Như tôi đã từng chia sẻ, giải thể một chế độ độc tài để bắt đầu con đường dân chủ hóa tuy khó nhưng còn dễ hơn rất nhiều so với công cuộc xây dựng dân chủ hậu độc tài. Và tri thức, khi đó sẽ đóng vài trò rất quan trọng; nhưng  nếu chúng ta không thể bắt đầu ngay bây giờ thì ngày mai chẳng có gì xảy ra cả. Ngay chính trình độ tri thức của người dân cũng ngày càng thoái hóa dưới chế độ độc tài chứ chưa nói là nó có cơ hội để đóng góp xây dựng dân chủ hay không. Bởi vì chính dân chủ và sự tự do hiến định trong một nền dân chủ xứng đáng cũng góp phần quyết định nâng cao trình độ tri thức của người dân.

Trong một buổi nói chuyện dành riêng cho Hội PNNQVN, ông Ngô Nhân Dụng đã chia sẻ: Bạn không thể nói tôi không biết bơi vì vậy tôi không dám xuống nước. Vì nếu bạn không xuống nước, bạn sẽ không bao giờ biết bơi cả. Và cũng xin dùng lời hữu lý trên để kết thúc bài viết này trong tâm tình mong muốn tiếp thu nhiều chia sẻ hữu ích hơn từ các bạn trẻ Việt Nam.

Buôn Hồ, 7/11/2014

H.T.V

Theo FB HuynhThucVy

Posted in vietnamese | Leave a comment

CANADA ĐẤT RỘNG NGƯỜI THƯA

Originally posted on hoamunich:

P1120049Thời tiết ở Đức lạnh như Canada, bởi vậy nhiều người Đức không muốn đến Canada  mà họ đến các quốc gia có nắng ấm hơn. Chúng tôi đi du lịch đường dài từ Houston, Miami, Washington, New York… Hãng bảo hiểm xe cho phép chúng tôi sang Canada, nhưng từ chối đến Mexico, chứng tỏ đời sống ở Canada an toàn như ở Mỹ. Trung tuần tháng năm dù thời tiết ở vùng Bắc Mỹ còn se lạnh, chúng tôi không bỏ cơ hội đi thăm Canada.

Địa lý và lịch sử Canada tóm lược

Canada có diện tích lớn thứ hai trên thế giới khoảng 10 triệu km2; (sau Liên bang Nga), nằm ở lục địa Bắc Mỹ, phía nam giáp Hoa Kỳ, phía bắc giáp Alaska (Hoa Kỳ) và Bắc Cực, phía  đông giáp Đại tây Dương, phía tây giáp Thái Bình Dương. Phần lớn vùng Bắc…

View original 4,074 more words

Posted in vietnamese | Leave a comment

LỄ TẠ ƠN 27.11.2014

Originally posted on hoamunich:

Thanksgiving-Day-Animated-Images-3Hơn bốn trăm năm trước vùng Bắc Mỹ là nơi mà những người cùng khổ khắp năm Châu đến tìm vàng, hy vọng thoát khỏi những khó khăn về kinh tế hay chạy trốn vì lý do tôn giáo. Miền đất hứa của những người lao động nhọc nhằn, đầy dẫy những hiểm nguy, bất công, bóc lột, kỳ thị… Họ phải chiến đấu để bảo vệ sự sống còn và vượt qua nhiều gian khổ để thành lập Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ là quốc gia độc lập, dân chủ và giàu mạnh nhất thế giới.

Hàng năm Canada và Hoa Kỳ có lễ Tạ ơn Thanksgiving để nhớ lại nguồn gốc tổ tiên. Lễ 3Thanksgiving có ý nghĩa thật sâu xa, con người có thể khác nhau về chủng tộc, màu da, đức tin tôn giáo hay vô thần. Trong đời chúng ta không ít thì nhiều mình…

View original 2,028 more words

Posted in vietnamese | Leave a comment

TIẾNG VIỆT

Posted in vietnamese | Leave a comment

ĐỜI TÔI

Originally posted on hoamunich:

clintonTác phẩm Đời Tôi

Clich here    ĐỜI TÔI    

Loại sách tự truyện  dày 957 trang của cựu T.T Clinton viết, được phát hành 1,5 triệu bản. Bản tóm lược Việt ngữ phổ biến trên 4phuongnet.  Nguồn: http://vnthuquan.org/

Mục lục

  • Cơn ác mộng Monica (1)
  • Cha tôi (2)
  • Những mối tình của Bill Clinton (3)
  • Thời thơ ấu của Bill Clinton (4)
  • Hai cách nhìn thế giới (5)
  • Cú bắt tay lịch sử (6)
  • Bill Clinton và Boris Yeltsin (7)
  • Ngày cuối cùng trong Nhà Trắng (8)

View original

Posted in vietnamese | Leave a comment

Sự thật sau những bức tượng Hồ Chí Minh ở nước ngoài

Sự thật sau những bức tượng Hồ Chí Minh ở nước ngoài

Facebook của Hoàng Ngọc Diêu, trong đó tác giả đã vạch ra những chuyện lừa bịp thảm hại đàng sau bức tượng Hồ Chí Minh ở Moscow (Nga) và bức tượng Hồ Chí Minh ở thành phố Montreuil (Pháp), tôi vào internet đọc báo và tình cờ thấy bản tin “Chile tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh” [3] của Đài Tiếng Nói Việt Nam VOV5 (ngày 05.07.2014). Bản tin viết:

(VOV5)- Ngày 4/7, tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được khánh thành tại quận Cerro Navia ở thủ đô Santiago, Chile.

Phát biểu tại buổi lễ, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đang có chuyến thăm làm việc tại Chile, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước tình cảm thành kính của lãnh đạo và nhân dân Chile nói chung và của quận Cerro Navia nói riêng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam, đồng thời khẳng định việc đặt tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại địa phương này là sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với quan hệ hữu nghị, đoàn kết và hợp tác giữa hai nước…

 

Tượng HCM ở Nga

 

Tôi liền thử tìm hiểu để biết sự thật về cái việc “Chile tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh” và “tình cảm thành kính của lãnh đạo và nhân dân Chile nói chung và của quận Cerro Navia nói riêng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam” là như thế nào.

Chẳng cần tìm đâu xa, tôi vào trang web của quận Cerro Navia, thì thấy có bản tin viết về vụ này.[4] Ngay phía dưới tấm hình chụp buổi lễ khánh thành tượng, có hàng chữ: “Embajada de Vietnam donó busto del líder revolucionario instalado en el lugar”, nghĩa là “Bức tượng bán thân của nhà lãnh đạo cách mạng do Đại sứ quán Việt Nam tặng được đặt vào vị trí”.

Ngay trong đoạn đầu tiên của bản tin, điều này cũng được lặp lại rõ ràng. Sau khi ăn trưa tại “Đại sứ quán nước Việt Nam Cộng Hoà” [Tras participar en un almuerzo en la embajada de la República de Vietnam] (than ôi, bản tin của quận này còn ghi sai cả tên quốc gia Việt Nam hiện nay nữa!!!), thì ông Luis Plaza Sánchez, quận trưởng của quận Cerro Navia, cùng với một nhóm người Việt Nam đến nơi khai mạc lễ đặt bức tượng “đã được tặng bởi đại diện ngoại giao của nước Á châu ở Chile” [“el cual fue donado por la representación diplomática del país asiático en Chile”]. “Đại diện ngoại giao của nước Á châu ở Chile” tức là Đại sứ quán nước Việt Nam Cộng Hoà [la República de Vietnam] ở Chile đấy! Trời hỡi!

A ha, thì ra bức tượng bán thân này không phải do “lãnh đạo và nhân dân Chile nói chung và của quận Cerro Navia nói riêng” tự ý nặn ra vì “tình cảm thành kính đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam”, mà lại do chính do Đại sứ quán Việt Nam vác đến… tặng.

Đại diện ngoại giao của Việt Nam vác tượng đến cái quận này để tặng, thì ông quận trưởng nhận, và đặt nó vào vị trí thích hợp theo nghi thức ngoại giao, chứ không lẽ đem vứt vô sọt rác hay sao?

Cái việc ông quận trưởng Luis Plaza Sánchez nhận bức tượng do Đại sứ quán nước ngoài tặng, rồi ông đặt nó vào vị trí thích nghi theo phép ngoại giao, là một việc rất bình thường. Chẳng những bình thường, mà trong trường hợp này thì lại còn quá đơn giản và tầm thường, vì trong nghi thức đặt tượng ấy đã không có bất cứ một vị đại diện nào ở cấp quốc gia của Chile đến dự.

Vậy thì lý do gì mà Đài Tiếng Nói Việt Nam lại thổi phồng việc đó thành “Chile tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh” và đó là “tình cảm thành kính của lãnh đạo và nhân dân Chile nói chung và của quận Cerro Navia nói riêng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam”? Ấy là chưa kể đến việc bản tin của quận Cerro Navia đã ghi sai tên nước Việt Nam hiện này thành nước Việt Nam Cộng Hoà [la República de Vietnam], chứng tỏ họ chẳng biết quái gì về cái nước đã gửi đại diện ngoại giao lò mò đến quận của họ để tặng bức tượng!

Nhưng vì sao Bộ Ngoại giao CHXHCNVN lại chọn cái quận Cerro Navia ấy để tặng tượng Hồ Chí Minh? Có lẽ vì cái quận Cerro Navia ấy là cái quận quan trọng nhất của nước Chile chăng?

Không. Cái quận Cerro Navia lại là một trong những quận “ổ chuột”nghèo đói thảm hại nhất ở Chile.

Theo bản nghiên cứu “Una experiencia en localidades de extrema pobreza urbana, Cerro Navia (Chile)” [“Một kinh nghiệm trong những địa phương ngoại ô cực kỳ nghèo đói, Cerro Navia (Chile)”] trang 55-82 trong cuốn La construcción del desarrollo local en América Latina: Análisis de experiencias [5] [Xây dựng kế hoạch phát triển địa phương ở Latin America: Phân tích những kinh nghiệm] của Programa Alianzas Estratégicas para el Desarrollo Local en América Latina [Chương Trình Liên đới Chiến lược Phát Triển Địa phương ở Latin America], thì quận Cerro Navia (có diện tích 11.1km2, và dân số 148,312 người) là quận nghèo nhất ở Chile, với số người thất nghiệp cao nhất ở Chile, số người mù chữ cao nhất ở Chile, và trung bình mỗi người dân ở đó chỉ học hết lớp 8. Nhà cửa ở đó thì vô cùng chật chội và tồi tàn, với 49.7% tổng số nhà không có bình đun nước nóng, 63.8% không có máy giặt, và 89.2% không có xe để di chuyển, vân vân…

Thì ra, có lẽ Bộ Ngoại giao CHXHCNVN đã chọn cái quận Cerro Navia ấy để tặng tượng Hồ Chí Minh vì nghĩ rằng dân ở đó nghèo đói, dốt nát, không biết gì về Việt Nam (thậm chí không biết cả tên nước Việt Nam hiện nay là gì), nên sẽ không có ai chống đối hay từ chối nhận tượng Hồ Chí Minh. Vinh dự thay!

Lò mò vác tượng Hồ Chí Minh đến tặng cho một cái quận nghèo đói, dốt nát nhất ở Chile, rồi sử dụng báo chí và truyền hình ở Việt Nam để rêu rao rằng “Chile tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh” và đó là “tình cảm thành kính của lãnh đạo và nhân dân Chile nói chung và của quận Cerro Navia nói riêng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam”, thì lại quá sức là giỏi!
Rủi thay, đó là cái giỏi của một chế độ lưu manh. Giỏi lừa bịp nhân dân!

Theo Facebook Hoàng Ngọc Tuấn
—————————————-
Tài liệu tham khảo:
[1] “Sự thật sau những bức tượng” (Phần 1), Hoàng Ngọc Diêu: https://www.facebook.com/notes/849006915121617

[2] “Sự thật sau những bức tượng” (Phần 2), Hoàng Ngọc Diêu: https://www.facebook.com/notes/849136128442029

[3] “Chile tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Đài Tiếng Nói Việt Nam VOV5, ngày 05.07.2014: http://vovworld.vn/vi-vn/Chinh-tri/Chile-ton-vinh-Chu-tich-Ho-Chi-Minh/252630.vov

[4] Bản tin của quận Cerro Navia, ngày 07.07.2014: http://www.cerronavia.cl/index.php?option=com_content&view=article&id=408:inauguramos-nuevo-parque-ho-chi-minh-&catid=1:noticias&Itemid=69

[5] “Una experiencia en localidades de extrema pobreza urbana, Cerro Navia (Chile)” trong cuốn La construcción del desarrollo local en América Latina: Análisis de experiencias, trang 55-82: http://www.proyectolocal.org/files/publicaciones/pdf_15.pdf

Posted in vietnamese | 4 Comments

Nước Đức, 25 năm sau ngày bức tường Berlin sụp đổ (1)

Nước Đức, 25 năm sau ngày bức tường Berlin sụp đổ (1)

 Bức tường Bá Linh được dựng lại bằng hàng ngàn những chiếc đèn lồng trắng , là một phần của dự án “Lichtgrenze 2014″ để kỷ niệm 25 năm sự sụp đổ của Bức tường Bá Linh ngày 09 Tháng 11 năm 2014

Để kỷ niệm 25 năm bức tường Bá Linh sụp đổ. Kính mời quý vị cùng thông tín viên Tường An nhìn lại những thành tựu cũng như những bất cập còn tồn đọng sau 25 năm thống nhất qua những chia sẻ của người Việt sống tại Cộng Hòa Liên Bang Đức

Bức tường Bá Linh
Đêm 13 tháng 8 năm 1961, tại Bá Linh, một bức tường  dài 156 km được dựng lên chia đôi 2 miền ý thức hệ. Bức tường đã giam cầm sự tự do của hơn 3  triệu người dân ròng rã  28 năm.
Mảng tối của hàng triệu  cư dân Đông Đức chỉ thực sự được phơi bày sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ ngày 9 tháng 11 năm 1989.
25 năm trôi qua,  sau ¼ thế kỷ thống nhất, nước Đức còn, mất những gì, người dân của xứ sở Karl Marx và Einstein này thua thắng ra sao ở buổi chung cuộc ?
Mặc dầu trong một sớm một chiều, 40 triệu người dân Tây Đức đã phải cưu mang thêm 18 triệu người dân Đông Đức, thế nhưng, tinh thần dân tộc đã giúp họ vượt qua mọi khó khăn ban đầu để vực dậy nền kinh tế và đưa nước Đức thành một quốc gia cường thịnh như hôm nay. Ông Lê Nam Sơn , ngụ tại thành phố Hannover nói :
« Trước đó, cuộc sống bên Tây Đức rất là dễ dàng, thoải mái. Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, toàn nước Đức thống nhất thì nói chung cuộc sống không khá như trước. Nhưng để bù lại, cả một nước Tây Đức họ đã vực dậy phần còn lại bên Đông Đức và sánh ngang hàng với các nước Châu Âu. Nhưng người lãnh đạo của nước Đức có cái viễn kiến và họ đã đưa nước Đức lên ngang hàng với các nước Tây Âu, chuyện đó không phải là dễ »
Theo chị Thục Quyên ở Munchen, đa số người dân Đức hài lòng với cuộc thống nhất đất nước. Họ đặt tinh thần dân tộc lên trên mọi khác biệt để xây dựng đất nước. Chị Thục Quyên nói :
«  Có khoảng 70% dân chúng đánh giá là cuộc thống nhất của đất nước họ từ tốt đến rất tốt. Phần lớn dân chúng rất là bằng lòng với tình hình chính trị và xã hội của đất nước họ. Điểm son của dân tộc Đức là tuy họ đã sống dưới 2 thể chế chính trị đối ngược với nhau trong hơn 40 năm trời nhưng người dân Đức vẫn có lòng tin tưởng ở tình anh em, tình dân tộc của họ. Và cái rất là hay là họ rất là sáng suốt, họ đã tách cái đảng Cộng sản của Đông Đức ra, là cái chính quyền phải chịu trách nhiệm. Người dân Tây Đức Tự do và người dân Đông Đức đã dẹp bỏ được những nghi kỵ với nhau, và vì vậy họ mới bắt được tay với nhau và làm việc »
Thực vậy, dưới sự điều hành của Thủ tướng Merkel và Tổng thống Gauck, cả 2 đều xuất thân từ Đông Đức , nước Đức đã trở thành một nền kinh tế đứng thứ tư trên thế giới và là đầu tàu của nền kinh tế Âu châu. Từ Hannover, ông Lâm Đăng Châu nói :
« Đa số người dân 2 miền Đông Tây sống hoà thuận. Chính trị Đức ổn định, kinh tế Đức cho đến bây giờ rất ổn định, coi như là vững mạnh nhất ở Âu châu bây giờ. »
Bức tường đổ và sự hãnh diện của người Đức
Nhìn vào sự cư xử của người dân Đức, theo ông Nguyễn Đình Tâm ở Bá Linh thì người ta có cảm tưởng  hình như chưa hề có một bức tường nào ngăn cách giữa  người dân Đông và Tây Bá Linh trước và sau năm 1961. Ông nói :
« Hồi đó, bức tường chưa sập nhưng vẫn có những người bên Đông Đức sang bên này để gặp bà con. Chính quyền Tây Đức còn tặng cho những người dân Đông Đức 100 Đức Mã. Rồi đến khi bức tường sập, thì người dân Tây Đức mở rộng vòng tay họ đón tiếp (người dân Đông Đức) như người thân thiết của họ »
Cho tới nay, người dân Đức đã phải đóng góp hàng ngàn tỷ Đức Mã để cưu mang thêm một nền kinh tế trì trệ sau gần 30 năm dưới chế độ Cộng sản. Từ Bá Linh, ông Hoàng Kim Thiên nói :
« Kinh tế của Đông Đức trước 1989 thì không phát triển gì nhiều. Nhưng sau khi bức tường đổ , Tây Đức đã phải bỏ ra rất nhiều tiền. Ở Tây Đức, mỗi người dân đi làm phải đóng 7% thuế để xây dựng Đông Đức. Sau 25 năm thống nhất, kinh tế nước Đức vẫn giữ rất là vững. Thì đó là sự hãnh diện của người Đức »
Sự khác biệt về mặt vật chất đã được san bằng, còn về con người thì sao ? Theo chị Anh Đào ở Bá Linh, thì đâu đó vẫn còn sự khác biệt về tư tưởng giữa những con người của thế giới tự do và những người đã sống một thời gian dài dưới chế độ cộng sản. Chị Anh Đào nói :
« Nói chung sau 25 năm, sự thống nhất của nước Đức rất là hoàn hảo. Mặc dù còn một số ít những người dân Đông Đức  vẫn còn những tư tưởng của chế độ cũ, nhưng từ từ họ vẫn hoà mình với phía bên Tây Đức này »
Sự khác biệt này, theo ông Hoàng Kim Thiên dần dần cũng đã được san bằng :
« Trước đây khoảng 10 năm. Thí dụ như trong hãng, xưởng, thí dụ như người Tây Đức có vẽ phóng khoáng hơn, tức là họ nghĩ gì thì họ nói đó. Còn người Đông Đức họ hơi dè dặt một chút xíu. Nhưng bây giờ, sau 25 năm qua, tôi thấy cái tinh thần đó không còn nữa »
Một điều ngoạn mục là sau một thời gian đầu tư để lấp đầy khoảng trống giữa Tây và Đông Đức. Giờ phía bên Đông Đức lại hình như vượt trội cả Tây Đức về mặt hạ tầng cơ sở cũng như chất xám. Ông Lâm Đăng Châu nói :
« Trước đây người  dân Đông Đức qua Tây Đức để tìm công ăn việc lắm để sinh sống. Nhưng từ năm 2013 thì ngược lại : Những người dân Tây Đức đã bắt đầu qua Đông Đức để bắt đầu xây dựng sinh sống làm ăn. Đấy là những sự phát triển rất là ngoạn mục. Nước Đức họ vui mừng thấy đó là một trong những tiến bộ »
Từ Bá Linh, chị Mỹ Lâm cũng ghi nhận những thành quả thực tế mà Tây Đức đã đóng góp cho Đông Đức :
« Phải nhìn nhận rằng sự giúp đỡ của Tây Đức cho Đông Đức rất là lớn và những thành quả đó cũng thấy được , bằng chứng là ở Berlin có nhiều những bệnh viện được xây ở Đông Đức còn tối tân gấp mấy lần những bệnh viện đã có sẵn ở Tây Berlin. Hạ tầng cơ sở, đường xá, bệnh viện , trường học, nhà cửa được xây dựng lại rất là mới »
Với hàng chục ngàn người Việt đang lao động tại Đông Đức trước 1989, sự hội nhập tuy quả là không dễ dàng sau khi cánh cửa tự do mở ra, nhưng sau 25 năm , ông Nguyễn Thành Lương ở Frankfurt cũng đã ghi nhận những thành công đáng kể của họ :
« Người Việt sau khi bức tường Bá Linh sụp đỗ chạy qua bên này (Tây Đức) thì không được hưởng những ưu đãi (như người Tây Đức lúc đó) nhưng dần dần người mình cũng chịu khó làm ăn và hội nhập. Mấy năm trở lại đây thấy họ cũng bắt đầu làm ăn đàng hoàng, không còn lối làm ăn chụp giựt trước đây nữa. Đó cũng là một thành công ! Và nhất là một trong những thành công mà báo chí Đức mấy năm gần đây nó rất nhiều về sự học hành của con em người Việt mình ở bên Đông »
Được sống trong một không khí hoàn toàn tự do, từ Berlin, ông Nguyễn Duy Tân, một cựu đảng viên Cộng sản phát biểu : « Cảm nghĩ của tôi thực sự là bình an. Mọi người đều có sự công bằng trước pháp luật  và trước cơ quan công quyền nhà nước. Ai cũng được quyền tự do tham gia và việc của nhà nước. Đó là giá trị mà tôi cảm thấy may mắn, hạnh phúc được sống trong một nền Tự do »
Đó cũng là sự may mắn của ông Nguyễn Thành Lương, một thuyền nhận tị nạn ở Tây Đức khi gặp được người phối ngẫu là chị Mai, một công nhân xuất khẩu lao động ở Đông Đức. 25 năm bức tường sụp đổ là  gần 25 năm mà ông Nguyễn Thanh Lương sống chung dưới một mái nhà :
« Từ sự may mắn của tôi, tôi cũng chia sự may mắn đó cho nhà tôi sớm được hội nhập »
Từ sự thống nhất của một quốc gia, đến sự thống nhất của hai tâm hồn. Đây có phải là một thí dụ tuyệt vời về sự hoà giải ? Chị Mai vui cười nói :
« Đấy mới là thống nhất nhỉ ??? »
Bên cạnh những hào quang của một nước Đức thống nhất. Đâu đó vẫn còn chập chờn những mảng xám. Sau những niềm vui hội ngộ là những sự thật trần trụi mà người dân hai miền Đông Tây của nước Đức phải đối diện và giải quyết. Xin mời quý vị xem tiếp trong phần hai.

RFA

Posted in vietnamese | 1 Comment